PHAN ĐÌNH MINH

Về làng

— Viết bởi phandinhminh @ 11:11

Việc làng

           Buổi sáng đầu đông althong heo gió, đang nằm với cha, tôi nghe tiếng anh Triệu ngoài cổng: “Cậu Minh về à. 7giờ mời ra họp thôn nhé”- Mới 5 rưỡi, anh Triệu đã gióng giả. Tôi ngỏng cổ, vâng một tiếng rồi cười khì “Lại được thôn mời họp”. Chuyện chẳng là, làng tôi khánh thành sân bóng chuyền, cũng nhân dịp kỷ niệm ngày đoàn kết Mặt trận các dân tộc Việt nam 18- 11- 2011, thôn tổ chức mít tinh, họp mặt, có bia hơi Hải Dương và bánh kẹo.

          Một chiếc bạt khung sắt dựng giữa sân. Trong nhà, ngoài sân mươi bộ bàn ghế nhựa. Bên cạnh nhà văn hóa là sân bóng chuyền mới đổ cát. Mợ Bức, thím Sim, mợ Bẩy quần xắn quá gối, đang bổ nhoài chang phẳng, để chốc nữa quan khách xã, khách thôn bên chứng kiến, cắt băng khánh thành và quan trọng hơn chiều nay có trận bóng mở màn do các cháu thiếu nhi xóm Trong, xóm Cầu Đá góp vui.

          Nhà văn hóa làng tôi thiết kế như một sân khấu, gồm 3 gian, có khán đài, còn mé dưới chống thuôn. Khán đài có kỳ Đảng, tượng Bác Hồ, hai bên là bộ loa đài to đoành do anh Khanh làm ăn ở Móng Cái trúng quả, tài trợ. Khoảng tường chính diện là hai chiếc bảng phooc to tướng đề tên các nhà tài trợ. Tôi đỏ bừng mặt khi thấy dòng chữ: “anh Minh và các bạn bè tài trợ sách”(tí nữa tôi sẽ yêu cầu anh Hòa ghi rõ tên những người gửi sách về biếu bà con). Cậu Truyền, cậu Vượng, anh Tân chủ tịch mặt trận thôn, anh Cương chủ tịch cựu chiến binh, anh Triệu bí thư chi bộ, anh Hòa trưởng làng, em Mười bí thư đoàn thanh niên, com lê cà vạt tất thẩy có 7 người. Tôi ngắm cậu Truyền, cậu Vượng, anh Cương là may đo, rất xuya, đúng phom, đời mới. Anh Triệu thắt cà vạt chuẩn, thắt kép, củ ấu rất hợp với chiếc áo sơ mi cổ cồn anh mặc. Cả buổi tôi cứ ngắm và nghĩ: “Cà vạt anh Triệu còn chuẩn hơn khối MC đài truyền hình trung ương”.

           Đến giờ làm việc, cả làng và quan khách đứng dậy làm lễ chào cờ, anh Cương hô. Chú Quý ấn điều khiển từ xa bài Quốc ca. Không khí trang nghiêm. Anh Cương tiếp tục tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu. Mỗi khi được xướng tên, từng người chức việc của xã, của thôn bên cạnh đều đứng lên quay xuống bà con gật gật. Có người giơ hai tay nắm chặt chĩa sang phải, sang trái như lãnh tụ Kim Nhật Thành của nước Triều Tiên mỗi bận xuất hiện trước đám đông. Tôi ngồi hàng ghế thứ 3, sau khi bị mấy cậu thanh niên và các ông bà đùn đẩy từ mé cuối lên. Đến lượt, mình sẽ chẳng đứng lên, gật đầu, vì như vậy có vẻ hỗn. Chờ mãi, màn giới thiệu anh Cương hết sạch mà chẳng thấy tên. Sỹ quan lực lượng vũ trang, một nhà văn mà ông Cương, ông Triệu, ông Hòa quên. Sau mới nghĩ lại, cười khì, trong con mắt làng, mình chỉ là thằng bé Nhân (tên hồi nhỏ của tôi) sát cá thôi. Cán bộ xã đến dự và chỉ đạo hội nghị có anh Đề, phó chủ tịch, anh Thắng chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã. Anh Triệu bí thư chân tre lên đọc ý nghĩa ngày kỷ niệm đoàn kết các dân tộc, Mặt trận tổ quốc Việt nam, tổng kết những thắng lợi mà làng Kinh Uyên đã đạt được trong năm 2011. Anh Hòa lên quyết toán thu chi việc khánh thành sân bóng truyền. “Tổng thu 44 triệu, 6 trăm, 48 đồng. Tổng chi đến ngày hôm qua là hết 36 triệu 1 trăm, 20 đồng”. Anh Hòa dõng dạc từng khoản rất là chi tiết. Bỗng nhiên tôi liếc mắt nhìn khắp căn nhà Văn hóa, kinh phí xã và dân cùng làm. Ban xây dựng do thôn cử và giám sát. Tôi có cảm giác, đây là công trình chi phí đúng vốn đầu tư và chắc chắn nhất trong những công trình tôi biết của đất nước này! Sau đó, lần nữa anh Hòa công bố và cảm ơn các nhà tài trợ, tôi lại rần rần mặt khi nghe: “Đồng chí Minh và các bạn bè nhà văn tặng làng tủ sách gồm 514 quyển”.

          Anh Tân đại diện Mặt trận thôn lên phát biểu; cháu Mười đại diện Đoàn thanh niên lên hứa, cuối cùng là anh Đề đại diện lãnh đạo Xã lên chỉ đạo. Phần nghi lễ kết thúc, cả làng uống bia hơi Hải Dương và ăn bánh kẹo. Tôi làm luôn ba cốc nhựa. “bia vào lời ra”, tôi cao hứng với anh Hòa và em Mười: “Việc mấu chốt của làng giờ là phải xi măng con đường ra ngoài đồng (ra bãi, nơi quy hoạch mồ mả cả làng). Kinh phí đóng góp và tài trợ. Làng nên có một lá thư “ngỏ” gửi tới tay tất cả mọi người đi xa. Đề nghị hảo tâm góp vốn. Việc quan trọng thứ hai các anh phải giữ cho được cánh đồng Quán Dương không được bán cho các nhà máy, hay làm ao cá. Nhất đẳng điền này phải giữ cho con cháu mai sau”. Chẳng biết tôi nói hăng không, mà anh Đề phó chủ tịch xã ngồi bàn quan khách bên đi sang chạm cốc và nói rất to: “Tôi nhất trí với ý kiến có tầm hiệu quả, lâu dài của anh Minh”. Lần thứ ba, mặt tôi lại rần rần…

          Xe bon bon về thành phố, lòng tôi phơi phới và chộn rộn. Cái làng Kinh Uyên cò trắng nghèo mãi của tôi, sau rất nhiều vật lộn giờ đang thay da đổi thịt, đang dần mở mày mở mặt dưới bàn tay chung lo của ông Tảo, anh Cương, anh Triệu, anh Hòa, cháu Mười… cùng bà con như lời anh Triệu: “Dựa vào dân để lo cuộc sống cho dân”. Vâng, ta phải dựa vào chính ta để vượt lên, để sống văn hóa, để cho dễ chịu hơn thôi!

21/11


Tái blog: Rất mong bạn hữu gần xa tiếp tục tặng sách, truyện (không kể chủng loại, cũ, mới) quyên góp xây dựng tủ sách, phục vụ trẻ em, người già, bà con quê tôi, làng Kinh Uyên - Thạch Lỗi - Cẩm Giàng - Hải Dương.

Địa chỉ gửi về: Nhà văn Phan Đình Minh - Phòng 210, nhà E, khu tập thể T36, Tổ 51, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Tp. Hà Nội.

(Cước phí bưu điện xin trả lại nếu trên 100. 000 đồng. Bạn bè có lòng hảo tâm xin chuyển theo chế độ bưu điện mang đến tận nhà, vì vừa rồi nhiều lần  tui phải ra bưu điện nhận, chậm trễ quá, do phải đi công tác xa nhiều, khó khăn quá. hu hu.)


 

 

 


THƠ

— Viết bởi phandinhminh @ 08:05

 alt

 

        Chôn chặt một bao la

 

Đã lâu rồi anh không gặp em

Cô gái quen hồi năm ấy

Có phải đời người là qua suốt những bến đò

Để dòng sông miệt mài chảy trôi ký ức

 

Đã lâu rồi anh không gặp em

Nụ hôn vội giấc mơ ở ven triền nọ

Cho anh mải miết đi tìm câu hát

Ấp iu phong kín để dành

 

Đến khi nào anh sẽ gặp được em

Năm tháng vụt trôi ghềnh ấy

Hay là em trốn vào ký ức

Mặc đời dâu bể khỏa nhau

 

Đến bao giờ anh mới gặp được em

Cô gái dịu dàng lần ấy

Bến sông thì đã qua nhiều, đường đời trải theo chân bước

Để một nỗi lòng, chôn chặt một bao la.

                                                                               03/11/2011

 


Với nhau

— Viết bởi phandinhminh @ 15:22

   Với nhau

     Bên cạnh giường bệnh hiếm hoi cha tôi là rất nhiều những cáng thương, băng ca, dài ngắn, thấp cao trong cái phòng bệnh số 1 khoa chấn thương chỉnh hình bệnh viện Việt Đức – Hà Nội. Sở dĩ tôi nói “hiếm hoi”, bởi lẽ 8 giường bệnh là số “ít” so với tổng số 37 “giường”đặt ở hành lang và phòng bệnh ở khu buồng điều trị này.

     Bệnh nhân già, trẻ, đàn ông đàn bà trần như nhộng, chỉ có chiếc áo vắt ngang người. Chân tay lủng liểng, đinh đóng treo đứng lên như một con cua. Đầu trọc lốc, lưng tróc toàn thịt nửa nằm nửa ngồi. Cáng ra, cáng vào không kể ngày đêm. Tiếng rên thất thanh, tiếng kêu thất thanh, tiếng khóc nghẹn ngào thất thanh giữa trưa, giữa đêm,… Người chăm bệnh nhân thì âu lo, tất bật, thì thầm, gục đầu vào tường khóc, gục đầu vào tường ngủ, gục đầu vào tường để nuốt cơn đau đớn của người thân… sự quá tải, kinh hoàng, sự cố gắng lúc nào cũng tới ngưỡng chịu đựng con người trong lao động vất vả vì sự nghiệp cứu người của tập thể y, bác sỹ, điều dưỡng ở khoa chấn thương chỉnh hình bệnh viện hữu nghị Việt Đức này. Và một lưu ý, là 10 ngày tôi chăm sóc cha ở đây, tôi chưa gặp một y sỹ, bác sỹ, một điều dưỡng viên nào có độ tuổi trung niên, hình như họ đều có độ tuổi dưới 30 - Cả ở phòng cấp cứu cũng vậy. Thật xúc động và lạ kỳ. Tất, những bác sỹ trẻ vậy, họ đều chịu trách nhiệm trước nhiều ca mổ khó, chín phần chết, một phần sống. Có những bệnh nhân vào, người không ra hồn, xương thịt bềnh bều. Chỉ có nhịp tim và chảy máu… rồi dưới những bàn tay, khối óc diệu kỳ họ đã sống. Chấn thương sọ não, chấn thương ổ bụng, gẫy dập toàn bộ tứ chi, tróc tuốt hoàn toàn lưng, bọng chân… Ông X ở Hà Giang, đón cháu đi học về bằng xe đạp. Chiếc xe tải bỗng rưng sầm sập lao vào…ông X chỉ kịp đẩy cháu sang vệ đường, mình thì ngã xõng xoài. Chiếc xe nghiền nát một chân; Cháu Y 19 tuổi ở Bắc Giang, hai đứa đi ăn đám cưới, say rượu, nhằm thẳng đầu ôtô phi. Chiếc xe máy bị ôtô nghiến bét và nghiền luôn 4 chân 2 đứa; Cháu Z ở Thanh Hóa, cùng mấy người sang đường, bị xe tải hất tung, 3 chị em quăng ra 20 mét, ôtô chạy mất tang. Cháu Z hai chân gẫy, lưng bóc toàn bộ thịt, và thương tâm là cháu đang mang thai 7 tháng, tới viện thì thai bị chết lưu… vô vàn trường hợp thương tâm. Họ vào đây, trông cậy ở những đôi tay, tấm lòng, khối óc của mấy chục y bác sỹ, điều dưỡng của khoa chấn thương chỉnh hình. Và tôi được biết chính khoa bệnh này vừa rồi đã nối thành công bàn tay cháu Ngọc Bích, người sống xót duy nhất tại vụ thảm sát, cướp tiệm vàng ở dốc Sản - Bắc Giang. Vào đây, tôi cũng chợt hiểu ra, chỉ có tình người với nhau, với nghề, các y bác sỹ, điều dưỡng viên mới hàng ngày tồn tại được công việc mình. Sự chịu tải, quên thân như thế nếu không có tình yêu thương bệnh nhân, yêu nghề nghiệp thì dù mức lương cao, đài thọ tới đâu cũng không thể nào đáp ứng được.

     Cuộc sống con người như chiếc lá, lật nghiêng

     Chỉ một phút sơ xẩy, chỉ thoáng giao thoa vật chất, một thói vô trách nhiệm của ai đó, vệt gợn một tâm hồn nhẩn quẩn ở khắc thiếu thăng bằng… một cuộc đời được định đoạt, là một đời người bị phế, một diễn tiến sống bình thường bị ngắt…

     Tại Khoa khám bệnh này luôn tồn tại ba diện người đối diện nhau: người điều trị; bệnh nhân và người nhà chăm sóc bệnh nhân. Và ở chốn này, tôi chứng kiến có một loại người nữa là bọn lửa đảo, tán tận lương tâm lợi dụng những lúc đồng loại đang bẳng hoảng vì sự mất mát, đớn đau của người thân để lừa, trộm cắp hoặc lừa để tống tiền.

     Với bệnh nhân thì y bác sỹ điều dưỡng viên ở đây tận lòng như tôi đã kể. Còn giữa bệnh nhân với nhau, giữa người nhà bệnh nhân đối với nhau ra sao. Chúng tôi yêu thương nhau như loài vật. Ở đây, chứng kiến và thấy sự tự nhiên hành xử với nhau là thế. Hình như lúc khổ đau, khốn khó nhất con người lại trở về đầy đủ ý nghĩa tốt đẹp thương yêu bản năng mình. Những khoảng thời gian từ 06h30 đến 11h30 và từ 13h30 đến 16h30 là người nhà của bệnh nhân đều phải xuống tầng, ra khỏi khu điều trị, để thời gian này y bác sỹ thăm khám, thay bông băng, làm thủ thuật với bệnh nhân. Mỗi phòng bệnh chỉ tối thiểu 2 người nhà được ở. Tức, 2 người này khoảng thời gian đó sẽ cùng với hộ lý, điều dưỡng viên làm các công việc từ quạt mát, xoa vết thương, đổ bô nước tiểu đến gãi những đầu gót chân tê cứng tụ bầm cho một người bệnh… và họ tự nguyện làm việc đó với đủ đầy sự yêu thương, chăm sóc như chăm sóc người thân… không hề xấu hổ, không hề e ngại khi phải chạm mắt vào những thân thể lõa lồ… một người đàn ông phóng mình túm lấy chiếc bô đựng nước tiểu vừa tháo từ các túi xông tiểu. Nước tiểu bắn đầy mặt, quần áo, khi ông lao cầm chiếc bô sắp ngật xuống sàn. Ánh mắt các bệnh nhân bình thường, ánh mắt y bác sỹ bình thường, ánh mắt người chăm sóc nhìn người đàn ông bình thường…

     Tôi giải nghĩa được ánh nhìn đó!

     Mười ngày chăm sóc cha tại khoa chữa bệnh này, lòng tôi bộn bề bao chuyện. Vất vả, lo lắng, mệt mỏi lắm nhưng tự rưng thấy lòng mình ấm lại, ấm bởi tình người với nhau, chốn này thật là cảm động. Ở đấy, tôi đã thực sự tìm lại được vị yêu thương gần ngụi của những thủa xưa giữa người với người trong nhiều nỗi mất an toàn, xô lệch đang nở rộ mọi nơi, bao nẻo bất ổn bây giờ!


Truyện ngắn

— Viết bởi phandinhminh @ 09:59

   

     Bến Thầm      

        

       Mấy năm nay, cứ đúng vào tối 28 tháng chạp, lúc không khí tết đang râm ran ở trong các gia đình và tràn cả ra ngoài đường thì chị lại đến trước căn nhà tập thể cũ kỹ của hai cha con tôi, nhẹ nhàng đặt cái thúng đã vơi vài thứ đồ ăn vặt gồm đủ loại: bánh nếp, bánh tẻ, bánh gio... xuống. Ngó vào trong nhà hồi lâu rồi chị bịn rịn chào một câu: “Ngày mai em về quê”. Cha tôi cười hiền, chúc chị ngày mai đi đường may mắn, về quê ăn tết vui vẻ.

       Thế là mãi đến tháng sáu sang năm chúng tôi mới lại nghe thấy tiếng rao hàng của chị.

       Ừ. Tính ra năm năm nay rồi, tiếng rao đã trở nên quen thuộc gần gũi với cuộc sống nhiều buồn bã của hai cha con tôi. Chị tên gì ?, mãi gần đây tôi mới biết. Chỉ nhớ sáng nào, tối nào chị cũng quá bộ tới căn nhà tập thể cuối dẫy của cha con tôi, dù biết hôm đó tôi không mua giúp được chị thứ gì. Có lẽ đó là thói quen, nếu thay đổi sẽ như thiếu thiếu điều gì trong người đàn bà nhà quê về thành phố kiếm sống này.

       Vóc dáng chị nhỏ nhắn. Còn khuôn mặt, tôi thật vô tình vẫn chưa mường tượng được mặc dù ngày nào tôi cũng trông thấy chị. Điều đọng lại như khắc vào trí nhớ tôi là tiếng rao hàng nhỏ nhẹ, hèn kém  nhưng bền bỉ cùng với hình ảnh đôi bàn tay khô với những ngón gầy, thoăn thoắt bóc tấm bánh nếp nuột nà đưa cho tôi ăn. Nhiều lúc tôi tự hỏi: tại sao người đàn bà chịu đựng, tần tảo như thế lại không ở nhà quê ruộng nương trồng cấy, mà phải lặn lội tận chốn thị thành đấy dẫy cạm bẫy, bon chen này để mong cóp nhặt từng đồng tiền nhỏ. Rồi tôi lại tự giải đáp: Cuộc sống mà, mỗi người một hoàn cảnh. Ai cũng đều có lý do riêng, cũng có một cách kiếm sống, một lối mưu sinh.

       Nhớ lại ngày đầu tiên khi xuất hiện tiếng rao “ai bánh nếp, bánh tẻ không” của chị ở trong khu tập thể thì cũng là ngày cha con tôi vừa tiễn mẹ ra nước ngoài. Người ta nói nhiều và tôi cũng đã biết chuyện đàm tiếu thế gian cho vợ đi nước ngoài tức là tự mình ký trước vào tờ đơn ly dị. Dẫu biết vậy nhưng cha tôi hình như chẳng bận lòng vì việc mẹ ra đi là kết cục của những chuỗi ngày căng thẳng, nhạt nhẽo trong tình cảm phu thê. Giờ đây, mẹ đi vắng xa dường không khí gia đình lại có phần nhẹ nhõm hơn, nhưng chỉ mình tôi biết cái buồn cứ mỗi ngày càng trĩu nặng lòng cha.

       Xưa, khi cha còn là chiến sỹ Trường Sơn, là lính xế của những tiểu đội xe không kính. Quý tính tình cha thật thà mà lỳ đến kinh người. Mẹ (lúc ấy là đội phó một binh trạm giao liên tuyến lửa) đã phải lòng và say đắm cha. Sau này mẹ nói với tôi: “cũng bởi cha hát quan họ hay chả kém gì văn công nên mẹ mới gắn bó”. Chiến tranh chấm dứt, cha và mẹ cùng trở về nhà máy nơi năm 1969 cha tạm biệt nghiệp búa, phay ra đi nhập ngũ. Đám cưới của hai người thật vui vẻ và trọn vẹn. Thì chờ ngày độc lập mà. Cuộc sống gia đình với đồng lương hai vợ chồng công nhân cộng lại, kể ra khéo vun vén cũng sẽ ấm êm. Nhưng chỉ vài năm sau khi tôi ra đời mẹ tự rưng đổi tính nết và bắt đầu nổi loạn. Trước tiên là việc thiếu thốn, kém bạn kém bè từ tấm áo đôi giầy sau đến căn nhà của chúng tôi chật chội, rồi phương tiện đi lại nữa... Lý do gia đình mình chẳng được bằng người, hình như mẹ quy lỗi đều do cha. Mẹ bảo cha là người đàn ông không thành đạt. Sau này tôi mới nghĩ: cha làm thợ rồi đi bộ đội, sao cha có thể ngược xuôi giỏi giang như ai được. Cha đâu có sở trường ngoại giao, xã giao, đi cửa trước đi cửa sau, để đổi, để hoá thân căn nhà tập thể của chúng tôi thành miếng đất quy ra vàng ba, bốn con số chín như chú Phẩm hàng xóm, mà cả khu ai cũng gán cho chú ấy cái biệt danh “vẹt nghìn năm” được. Cha bị thương, mắt kém và đâu còn sáng ý để khổ công học văn hoá, rồi lại chuyên tu, tại chức để được cất nhắc thăng tiến. Cha chỉ mãi là một người lính, một anh thợ lành nghề. Những năm tháng sau đó sản xuất gặp khó khăn, có lúc cái nhà máy hạng ba của cha còn chẳng có việc làm. Mọi người phải nghỉ không lương, có đận mất vài răm tháng. Những lúc ấy cha cũng tính toán xoay thêm đủ nghề để kinh tế gia đình bớt xo xíu. Từ việc phong mứt tết đến chuyện chung vốn với chú Khang mập làm khoá gia công. Tôi nhớ có lần cha còn hí hoáy tạo khuôn, tạo mẫu... in tranh Đông Hồ bán trong các chợ. Cha treo tranh sàn sạt suốt ngày, mà chẳng có ai hỏi, xem. Cha đâu hiểu được cái nghề nhất nghệ tinh truyền từ ông tổ mười mấy đời. Tài hoa, cốt cách, nghệ thuật đã ăn sâu vào từng đường gân, thớ thịt của người thợ làng nghề vậy mới có thể tạo ra tranh đẹp đem bán ở dân gian. Với tay nghề thợ cơ khí bậc 5/7 của cha sao có thể làm ra những tấm khuôn in nên những bức tranh có thần có thái được. Than ôi, tranh Đông Hồ của cha nó gia giả, đơ đơ. Có lẽ đứng trong thứ hàng giả phế cấp giành cho người thu mua giấy loại chứ đâu được xếp vào hàng chính cấp để lũ trẻ trâu dán diều thả chơi! Mẹ được phen dè bỉu, còn cha cay đắng bán chiếc xe đạp,  món tài sản quý nhất trong nhà để trả nợ, bù vào phi vụ làm ăn thua lỗ. Thật thương cho cha.

       Cũng nói thêm, mẹ thừa hưởng gien của ông ngoại (cao lớn, phong độ) nên mẹ rất đẹp. Sau này khi cuộc sống chồng vợ cha mẹ tan vỡ tôi nghe lỏm chú Sách bạn thân của cha tâm sự: “Đúng thôi mà. Người đẹp như thành yếu, dễ chiếm nhưng khó giữ”, rồi tôi lại nghe thấy chú an ủi cha: “Đấy cũng là cái số, cái đường tình duyên của mày lận đận”. Tôi chả dám trách cha, cũng không trách cứ mẹ, mà chỉ buồn thôi. Cha và mẹ là hai thái cực tình cảm trái ngược nhau, trái ngược cả về sở thích lẫn nhiều quan niệm. Tôi thấy lạ. Mẹ sinh ra ở một thị trấn nhỏ, những năm tháng tuổi trẻ của mẹ được tôi luyện, đều đã gửi lại chiến trường ác liệt, thế mà sao chỉ có ít năm, nhất là khi xã hội đang vật vã chuyển mình, khi thời mở cửa các xu hướng ngoại nhập, vật chất hoá cứ định lăm le xâm hại những gì vốn là bản sắc, truyền thống. Thật buồn, lúc này đây mẹ lại nhìn nhận, cắt nghĩa tất tật các chuyện có trên đời chóng vánh, nhẹ nhàng đến không ngờ. Ví như ngày giỗ đầu ông nội. Mẹ bảo với cha: “Mình là con thứ, không có mặt thì gửi tiền về. Ai trách. Đồng tiền sẽ san phẳng mọi dị nghị, kêu ca”. Đành rằng đôi lúc đồng tiền là ma lực, nhưng sao nó có thể nấp đầy được lỗ hổng trách nhiệm, hay may kín nỗi đau tình cảm trong lòng mỗi con người. Rồi việc cha vô tình chứng kiến quan hệ của mẹ với gã trưởng phòng tổ chức một xí nghiệp liên doanh (cái gã hơn mẹ đến hai mươi tuổi, có hàm răng doạ ma nhìn phát khiếp). Mẹ dửng dưng giải thích với ông bà ngoại khi sự việc vỡ lở, đến tai ông bà: “Cho chuyện là quan trọng thì nó là quan trọng, còn không, nó cũng chỉ là sinh hoạt”. Mẹ có biết đâu, cái điều mẹ cho là sinh hoạt mà làm đau lòng người thân, làm tổn thương đến hạnh phúc gia đình thì đâu còn là: không quan trọng nữa. Những năm tháng tiếp theo, tình cảm giữa cha mẹ thêm rạn nứt và nỗi buồn trong tôi càng lớn hơn khi những vết thương thời chiến tranh trên cơ thể của cha tái phát. Sức lực cha giảm hẳn, cha không còn theo kịp cái dây truyền sản xuất ở nhà máy nữa. Các bác trong ban giám đốc cho cha nghỉ hưu, mặc dù cha còn thiếu tuổi. Khi tôi bắt đầu vào học đại học năm thứ hai thì mẹ sùng sục lo chạy một suất đi xuát khẩu lao động ở Đức. Và điều mẹ sẽ không chở về với bố con tôi, ai cũng như biết trước. Hôm mẹ đi, tôi khóc nhiều lắm.

       Nhà, giờ còn lại hai cha con nên tôi không ở trong ký túc xá mà đăng ký với nhà trường từ nay sẽ học bán trú. Sáng sớm tôi đi còn chiều khi tan học thì chỉ mong mau chóng về nhà với cha. Để chăm sóc được cha, tôi luôn xắp xếp mọi việc cho thật hợp lý mà không ảnh hưởng đến chuyện học tập của mình. Biết tôi lo lắng nhiều, cha gắng tỏ ra khoẻ mạnh. Cha âm thầm  giấu những đau đớn luôn hành hạ mỗi khi giở giời, gió bấc về. Những lúc chúng tôi bên nhau cha đều muốn làm cho tôi thật vui, yên lòng. Cha “cố” dạy tôi những điều con gái phải biết để tôi có hành trang sau này và cũng cho tôi vơi đi cảm giác thiếu vắng, không mẹ bên cạnh.

       Tháng 3 năm 1994 cha nhận được lá đơn ly hôn do mẹ gửi từ nước ngoài về. Chuyện gì đến thì nó đã phải đến. Cha thuận tình ký vào lá đơn rồi lặng lẽ ra bưu điện gửi cho mẹ. Cha không cả cho tôi biết. Mỗi lần nhớ lại vóc dáng cha gầy gầy bước lên chiếc xích lô cọc cọc dưới trời mưa phùn dọc hàng cây ướt lướt thướt mưa lạnh tới bưu điện mà lòng tôi như tan nát. Những tháng ngày tiếp theo đó trong ngôi nhà tôi thật nặng nề. Nhưng rồi theo thời gian cuối cùng mọi điều cũng phải nguôi ngoai dần dần.

       Có dịp là cha thường đưa tôi đi đây đó. Năm nào vào kỳ nghỉ hè cha con tôi cũng về quê nội thăm họ hàng, thăm chú Đức cùng thím và các em. Tôi biết vì tôi, vì sự học của tôi mà cha khước từ việc về sinh sống ở dưới quê. Căn nhà ba gian còn tốt của ông bà nội, hiện chú Đức vẫn giữ gìn, ý chờ cha con tôi. Cha đếm  từng ngày trông tôi lớn khôn. Người ta bảo : “ Con cái là của để dành”, và cũng có người lại nói: “ Con cái không phải là của cải mà là chỗ để cha mẹ yêu thương”. Tôi thì tôi chẳng hiểu hết ý nghĩa câu nói trên mà chỉ biết ở trong cha, tôi có cả hai điều. Cha như chuyến đò đầy mong ngày tới bến.

       Một hôm đi học về muộn bởi lớp có thêm tiết thực hành trong phòng thí nghiệm. Lên xe ra khỏi cổng trường, nghĩ đến cha, tôi chỉ muốn đạp nhanh nhanh về. Bước chân vào trong nhà, tôi ngạc nhiên thấy mọi thứ sạch sẽ, gọn gàng quá. Trong bếp lại vọng ra tiếng lục cục của bát đĩa. Ngó vào, tôi ngỡ ngàng thấy chị bán quà rong đang múc cháo ra một cái bát to cho cha tôi. Mùi hành, tía tô xông lên hăng hắc khắp cả gian nhà. Như bị bắt quả tang làm một việc gì không phải, chị giật mình lúng túng:

        - Bố em sốt quá, tôi bẳng giúp nồi cháo.

Hiểu ra mọi chuyện, tôi cười rồi nhìn chị:

       - Cảm ơn chị. ở trường em cứ thấy nóng ruột.

       Trên giường, cha thì đang trùm chăn kín đầu, thiêm thiếp.

Chị bán quà rong bưng bát cháo vào, đưa cho tôi rồi nói nhỏ:

       - Em cho bố ăn đi...

      Nói xong chị hấp tấp bê thúng bánh đặt lên đầu, vội vàng bước ra khỏi căn nhà của hai cha con tôi. Đứng tần ngần nhìn theo dáng đi lật đật khuất vào khúc nghẹo đầu ngõ bên mấy khóm cây cúc tần xác xơ, tôi thầm cảm ơn người đàn bà và thật ái ngại khi thấy thúng hàng của chị vẫn đầy...

      Và cũng một lần đi học về, tôi thật ngạc nhiên, trong nhà có bao nhiêu là bánh. Cha úp  mấy xâu trong chiếc lồng bàn trên nóc gác-măng-giê. Có đến ba chục cái, các loại. Thế là bốn hôm liền cha con tôi không phải thổi cơm... Tôi không dám hỏi cha. Sau này nghe hàng xóm  kể lại, tôi mới tường. Sự thể cô Xuyến vợ chú Phẩm  chuẩn bị đi thăm quan tận Bích Động - Ninh Bình. Cô Xuyến dặn chị bán hàng rong mang đến nhà năm sâu bánh. Khi chị đưa lại thì bà chủ đã đi mà vớ ngay được ông chủ. Chú Phẩm không mua, còn đuổi vội chị ra vì nhà đang bận tiếp khách làm ăn. Chị đứng lặng tủi thân mắt rân rấn nước. Từ sáng đến tối sao mà bán hết được số bánh này ?. Lãi nời kiếm được có là bao. Biết chuyện, cha tôi gọi chị vào. Cha bảo: “Cứ để đây, cô Xuyến nói tôi lấy hộ. Ông chồng ông ấy không biết...”. Nhờ cha nên tôi mới được ăn nhiều bánh thế !.

      Trong khu tập thể dần mọi người xầm xì, đàm tiếu xung quanh chuyện tình cảm giữa cha tôi và chị bán hàng rong. Tôi ngờ ngợ. Nếu có thật thì sao nhỉ ?. Cũng chẳng biết nữa. Cha đã năm mươi tuổi rồi. Chỉ biết hàng ngày, hàng tối tiếng rao hàng vẫn cứ đều đặn qua cửa nhà tôi. Và mỗi lúc vậy, tôi thấy cha như trẻ lại.

      Nhịp sống theo tháng ngày bình lặng. Cha tôi cũng khoẻ dần lên. Giàn hoa giấy nhà ông Thắng năm nay sum suê rủ cả sang mái hiên của nhà tôi. Ngày ngày cha hay mang chiếc ghế đẩu ra ngồi ở đấy, cha ngóng tôi về hay cha chờ trời tối xuống... Và đến cuối năm, như thường lệ, ngày 28 tháng chạp, chị bán quà rong lại đến trước cửa căn nhà tôi, chào cha một câu: “Mai em về quê”.

      Năm nay hai cha con tôi cũng về dưới quê ăn tết. Ra giêng tôi lại tiếp tục vào trường và hai chúng tôi dù không nói ra nhưng đều có ý mong tháng ngày vội vội qua để lại được nghe tiếng rao hàng. Thế mà tháng sáu qua rồi, tháng bẩy cũng qua. Tháng chín, tháng mười... hai. Cha con tôi vẫn không thấy bóng dáng người đàn bà bán hàng rong trở lại.

       Cha buồn. Tôi thấy cha gầy xọp. Lúc này thì tôi chắc chắn cha đã có tình cảm với người đàn bà bán quà rong thật rồi. Mà giờ, sao chúng tôi vẫn chưa biết chị quê ở đâu ? hoàn cảnh thế nào... ? Hàng đêm, học khuya trên gác xép, tôi thấy dưới giường cha trằn trọc không ngủ được vì buồn nhớ người đàn bà ấy. Và cứ vậy tôi xót xa nghe tiếng sương rơi thảng thốt tí tách âm thầm như khóc trên những cánh hoa giấy mỏng phủ xuống mái hiên nhà mình. Đến khi không thể trì hoãn được nữa. Tôi xin nghỉ học hai ngày. Giấu cha. Tôi đi lang thang dọc những con hẻm, dọc những con đường rủ bóng lá vàng của tán những cây cơm nguội dẫn đến các lò bánh mà người bán hàng rong thường cất lẻ. Tôi hỏi thăm tung tích của chị. Gặp ai tôi cũng hỏi, hỏi tất và chẳng có người nào cho tôi biết một tí thông tin nào về chị. Đến lúc mọi hy vọng tưởng đã tắt thì tôi tìm thấy một người bà con cùng ở quê, đã cùng với chị ra thành phố kiếm sống. Cái lò bánh hai người thường mua để đi bán lẻ lại ở ngay cạnh ngôi trường tôi đang theo học.

       ... Chị tên Thầm. Quê chị ở vùng nửa trung du nửa đồng bằng cách thành phố gần trăm cây số. Cái làng nhỏ bé teo sinh ra bởi phù sa bồi đắp của con sông Đuống. Từ trên xa kia dòng sông vẫn thẳng tắp, chẳng hiểu sao về đến đây nó chợt cong mình quẫy ngang ra. Bao đời nay rồi, con sông cứ chảy thế và nó gột nên cái làng Vần từ một ngày tháng nào chẳng ai còn nhớ rõ. Bờ sông bên này muốn sang được làng thì phải qua đò. Cái bến đò đặt vào chỗ nước sâu chảy cuộn đúng đoạn con sông đổi dòng. Bến Nghẹn. Con sông cái nghẹn dòng, hay làng Vần này bao đời nghèo khó chất chứa bao con người, bao kiếp người nhọc nhằn. Cái tên của bến đò sao mà đúng vậy.

       Làng Vần  mấy đời nay chuyên sống một nghề nấu rượu. Xưa thì nấu lậu, nay được nấu tự do rộng rãi. Rượu Vần ngon nổi tiếng, thứ rượu gạo nếp cái hoa vàng cắm tăm nhấp một tí là ngon tê đầu lưỡi nửa ngày này đã đi khắp nước, thường khi ra cả nước ngoài. Đưa người từ làng Vần sang sông hay đón người từ ngoài vào làng Vần trên cái bến Nghẹn là một ông lão chèo đò suốt ngày say rượu. Cũng bởi chuyến rượu nào ngoài tiền công, chủ lò ai cũng cầm cái cút sành ông lão luôn đeo ở cạnh sườn nhúng ngập vào chum rượu nước hai ngon nhất, biếu ông. Cả làng Vần đều thương, đều trọng ông lão say này. Kể cũng lạ, đã gần hai chục năm nay vừa say, vừa chèo đò, thế mà ông lão chưa để sơ sảy một chuyến đò nào. Ông như phải lòng, như mắc nợ với cái bến Nghẹn này.

        Nhà chị Thầm chẳng đặng được nghề nấu rượu bởi cha mẹ chị là dân ở nơi khác đến nhập cư.  Làng Vần rất hà khắc bí quyết làm men rượu, hà khắc mối cất hàng ở bên kia bờ. Vậy nên cha chị Thầm không nấu được rượu ngon. Mà có nấu được rượu chở qua sông cũng chẳng ai mua nên nhà chị cùng với mấy gia đình ngụ cư ở cuối làng chỉ sống độc nghề nông. Nghề nông ở đây canh tác được có một vụ một năm. Lúc con nước lên, bãi Cuối ngập thì cũng coi như nghỉ treo niêu. Ai khéo nói, chịu nhịn thì làm thuê được cho mấy lò rượu khá giả trong làng với tiền công rẻ mạt. Ai không làm thuê thì đi tứ tát khắp nơi kiếm ăn đủ sáu tháng khi con nước dòng, bãi Cuối nhô lên mới lại về quê để làm nông. Theo đó việc dựng vợ gả chồng cho con gái, con trai của những gia đình ở cuối làng Vần ai cũng khó. Chị Thầm không phải đẹp nhưng chị có duyên, vậy mà lần lữa, nỡ làng mãi chị vẫn không có người dạm mặt. Rồi, trời sui đất khiến thế nào chị vội vàng trở thành đàn bà với một tay chữa loa đài ở bên kia bến Nghẹn. Đứa con trai đẻ thiếu tháng của chị bị cha nó ruồng rẫy và cả ông ngoại cũng chối bỏ. Hai mẹ con chị Thầm  sống vất vả trong sự dị nghị của dân làng Vần. Năm kia, cha chị ốm rồi qua đời. Mẹ chị thương chị, dứt khoát không vào miền Nam ở với anh cả mặc dù anh cất công ra tận quê đón. Mấy năm nay rồi, dưới nếp nhà tranh này, ba thế hệ chỉ có ba con người vẫn lụi cụi sớm tối bên nhau. Hàng năm khi bãi Cuối bị ngập nước, chị Thầm xuống thành phố bán quà rong rồi chờ mãi đến lúc bãi Cuối nhô hẳn lên chị mới lại về nhà trồng rau, trồng bắp đem bán ở những phiên xép của chợ Giằng. Vào dịp đầu năm nay, mẹ chị tự rưng kém mắt. Cứ nhoà đi. Mọi người nói bệnh già. Vậy nhưng chị Thầm  vẫn phải ở nhà chăm sóc, không đi bán hàng được nữa... cuộc sống giờ xem chừng lại chật vật hơn.

        Một ngày cuối năm, cũng vào 28 tháng chạp tôi thuyết phục cha về tìm lại chị Thầm. Đi hai đận ô tô, đi bộ ba bốn cây số rồi hai chúng tôi cũng tới được bờ bên này của cái làng Vần. Ông lão say chèo đò ghìm  con thuyền đưa chúng tôi qua sông. Nhìn dòng nước cuộn cuộn, tôi bíu chặt tay vào mạn thuyền. Thấy vậy ông lão say cười, nói:

       - Đừng sợ. Sang năm cháu về đây thì nước không còn cuộn nữa, sông sẽ mênh mang vì trên kia thuỷ điện được khánh thành. Cái đập nước sẽ làm khúc  sông này mềm lại.

       Tôi nhìn cha, nhìn ông lão chèo đò rồi cười ròn tan.

       - Thế thì bến sông này không còn gọi là bến Nghẹn nữa ông nhỉ, cha nhỉ ?.

       - Không là bến Nghẹn thì gọi là bến gì. Con ?.

       - Gọi là bến... bến Thầm.

       Cha cười. Đã từ lâu lắm tôi mới thấy cha cười vui như thế.

       Ông lão say chèo đò cầm cút rượu, lại ngửa cổ làm một tợp. Bên kia bến sông nhấp nhô có đến mấy mươi người đang lội rửa lá dong để gói bánh chưng đón tết. Những tấm lá dong xanh, xanh cả một rẻo bờ. Trong lòng tôi lúc này chợt dâng lên một điều khó tả ! ừ, tin thì tin rồi, vào những gì ông lão say nói: “dòng sông sẽ mênh mang” Còn, cha yêu kính của tôi. Chỉ khắc nữa thôi, cha sẽ tới bến đỗ của mình!

                                                                                                     PĐM

 

 

 


Binh truyện

— Viết bởi phandinhminh @ 09:56

Nhân đọc truyện ngắn Chanel 5 của TC

 

     Truyện ngắn Chanel 5 -  là lời tự sự thu nhỏ một trang đời, những trang đời khép lại.

     Đọc truyện, dòng cuối ngưng rồi, trong ta bỗng gặp nốt nhạc ngân lên với nhiều thăng giáng. Gieo suy ngẫm lắm chiều về tình yêu, gia đình, và cái lớn hơn là hành cử cao đẹp, không thể khác giữa con người văn hóa với nhau. Ở đó, mọi buộc ràng, quy định bị dứt buột, ở đó ai cũng vì nhau, từ chuyện nhỏ đến những điều lớn lao nhỉnh ra ngoài vỉa, định. Ở đó ba nhân vật chính Tuấn, Thùy, Dũng, cả ba họ đã sống thực đời, và người, và đều dễ dàng vượt lên các lẽ thường tình, thường vậy (dù, không hề dễ - Khoan hẵng bàn đến việc nên, không nên, phải hay phải vậy). Ở từng hoàn cảnh cụ thể họ đã thành công kiến diện mình, là mình, và lớn lao, quý hơn họ đều xử sự, hành động rất đơn giản và trung thực, như cuộc sống là: nên thế.  

     “Tấm lòng, đến với tấm lòng”, trở thành người tử tế có lẽ là hành trình khó nhất của đời người ta. Để đánh giá, nói rằng ai đúng, ai sai, nên như vậy là phải, cân đong đo đếm và rồi ngậm ngùi, cầm bằng. Còn sự khác nhau giữa các nhân vật nữa chứ? âu vẫn là cách diễn giải hành động hướng tới điều gì! Cuộc đời, đích người này (Dũng) là sự vẹn toàn đúng nghĩa một đời sống. Nhưng có cái đích chỉ cần gầy một bóng hình (Tuấn) là toại nguyện, nên hay chiêm nghiệm, đau đáu một vệt hương là ngóng lắm, đủ lắm, vậy là đã thoảng 60 năm… cũng có ai “tham lam”, trải lòng, cho những trước - sau, và dĩ nhiên thiệt thòi, cực lòng, ở “bây giờ”, và kỳ lạ, vẫn được thương lắm, quý lắm.

     Vậy đấy, đời sống huyền diệu là thế, ta không nên lý giải, quy chiếu nó bằng lý thuyết kỹ thuật số với bậc nhị phân, hay những quy định khuôn khế. Và cuối cùng vẫn là sự tôn vinh cái đẹp, giá trị đích thực, hằng số của những nghĩa cử trước sau. Để ước có một người bạn đời như Thùy thì đấng mày râu cả quả đất này chắc tôn thờ, tôn vinh, nhưng kề cận thì...! Kết thúc truyện hé mở sự bắt đầu. Không biết có phải hé mở sự bắt đầu “làm lại” hay “tiếp nối”! Truyện hết, ta cứ thòm thèm, giá cuộc đời không ngắn thế !  Nếu (mạo muội) đoạn này: “Mẹ Tuấn cứ ôm lấy Thùy mà khóc. Bà giữ Thùy ở lại nhà mình: "Con đừng bận tâm đến những điều nó nói, có con, bác đỡ đau hơn...". Thùy đã giúp Tuấn đứng dậy và sống nốt những ngày còn lại một cách hữu ích. Cô cùng Tuấn tham gia "hội đống đẳng". Họ trở thành báo cáo viên của nhiều cuộc tập huấn về AIDS và phòng tránh AIDS. Cô cùng Tuấn đến các bệnh viện thăm hỏi những bệnh nhân đang ở vào giai đoạn cuối. Tuấn đã trở lại "chàng lớp trưởng" vui nhộn và hóm hỉnh của ngày xưa” viết gọn lại. Lại giá kể (cũng mạo muội) không có chi tiết “Thùy mua một túi hoa khô đặt lên bàn thở và dặn mẹ Tuấn tẩm Chanel 5 vào đó mỗi tuần” - cả đời Tuấn đã “thấy” Chanel5 rồi!, giờ con người Thùy, hành cử của Thùy thế, liệu đã đủ?!

      Dẫu truyện còn một vài khuyết nhỏ về nhịp điệu, nhưng cũng rất cảm ơn TC đã đưa tới độc giả một câu chuyện đời hay, chênh chao. Ở đấy nghĩa cử, phẩm chất của phụ nữ lần nữa lung linh, được đề cao. Ở đó tự thấy nhiều riêng và chung của ta, của người trong đời sống biển tận vời vợi trước mặt này./.

                                                                                                                    28/7/2011

 

(Xin được copy nguyên văn truyện ngắn trên trang guihuongchogio.vnblogs.com

và xin phep TC cho tải ở đây).

        Thi xong môn cuối cùng, Dũng đi thẳng từ trường ra sân bay. Hành lý gọn nhẹ chỉ có một va li nhỏ và một túi xách tay đựng chiếc máy tính đã được Dũng gửi ở cổng bảo vệ trước khi vào phòng thi. Mấy tháng nay, Dũng hầu như không gặp được Thùy trên mạng. Gửi thư về chỉ thấy Thùy viết sang vắn tắt: "Em và các con khỏe. Mong anh về". Viết thư cho các con, Dũng không dám hỏi nhiều. Chỉ dặn hai đứa phải biết nghe lời và giúp đỡ mẹ.

      Sau khi sinh thằng Nhân, Thùy đã xin nghỉ hẳn ở nhà. Môn địa lý của Thùy ở trường cấp hai thường bị học sinh coi nhẹ. Trong giờ Thùy lên lớp, nhiều đứa mang bài tập toán ở lớp học thêm ra giải. Có đứa lên trả bài, tìm "Ải Nam Quan" trên bản đồ lại chăm chăm nhìn về Mũi Cà Mau. Biết Thùy mê sách, Dũng bàn mở một quán sách nhỏ. Thùy vừa tranh thủ trong con, vừa trông coi cửa hàng, và quan trọng là có thể đọc được mọi cuốn sách mình thích. Tầng một của ngôi nhà được ngăn thành hai nửa. Nửa ngoài kê mấy tủ kính đựng sách; nửa trong kê chiếc giường nhỏ cho mẹ và chiếc cũi lưới cho con. Khi Thằng Nhân được bốn tuổi, Thùy sinh tiếp bé Hậu. Hậu được thừa hưởng nhan sắc của mẹ và sự tinh anh của cha. Trong nhà hình thành hai phe: Thằng Nhân lúc nào cũng "Mẹ! Mẹ!". Còn Dũng lúc nào cũng cho con Hậu ngồi lên vai chạy khắp nhà "con gái bia Heneiken của bố".

      Việc Dũng xin được học bổng tiến sỹ ở Mỹ cũng hoàn toàn tình cờ và may mắn. Vị giáo sư giúp đỡ Dũng làm luận văn tốt nghiệp sau khi về nước đã tích cực vận động tài chính cho Dũng sang học tiếp. "Việt Nam sẽ rất cần những nhà nghiên cứu xã hội học để giữ được bản sắc văn hóa của mình khi hội nhập với thế giới". Hồ sơ gửi đi, nhà trường dàn xếp với Văn phòng của Ngân Hàng Thế giới tại Hà Nội cho Dũng dự phỏng vấn qua phương tiện video-conference. Lúc nhận được giấy báo, Dũng thấy mình như vừa bay lên trên mây rồi lại bị rơi xuống không trọng lượng. Bảy năm học là một khoảng thời gian quá dài. Đưa Thùy và hai con cùng sang thì khoản tiền trợ cấp của nhà trường không đủ trang trải cho một gia đình bốn người. Nếu Dũng đi một mình, mọi gánh nặng sẽ dồn hết lên vai Thùy. Thằng Nhân, con Hậu đang tuổi ăn tuổi lớn. Một cậu bạn học cũ của Dũng ở Quảng Ninh đã có một đứa con dính vào chất trắng. "Bình quân ở đây mỗi gia đình nuôi một con nghiện mày ạ".

      Cuối cùng thì mọi việc cũng được dàn xếp ổn thỏa. Toàn bộ tầng dưới sẽ cho một văn phòng Tư vấn du học thuê. Số tiền năm triệu một tháng đủ để cho ba mẹ con Thùy nuôi nhau khi Dũng vắng nhà. Mấy tủ sách của Thùy được chuyển sâu vào phía trong. Bây giờ ngoài sách văn học, Thùy nhận thêm cả các loại sách dạy và học tiếng nước ngoài. Dũng dự kiến sau khi học xong bốn năm đầu, Dũng sẽ xin nhà trường cho tham gia trợ giảng để có thêm thu nhập. Lúc ấy có thể đưa Thùy và hai con sang.

      Thùy không ra sân bay đón như mỗi lần Dũng đi công tác nước ngoài. Phòng ngủ của hai vợ chồng được kê thêm một chiếc ghế so-fa. Thùy nói với các con, không muốn nằm trên giường xem ti-vi vì hay ngủ quên. Suốt một tháng Dũng về, đêm nào hai người cũng nhường nhau nằm giường. Tuấn đang rất cần Thùy. Thùy nhờ Dũng mang theo hai con sang Mỹ. "Anh là một người đàn ông tuyệt vời nên em không thể lợi dụng và lừa dối anh. Nhưng em chẳng thể yên lòng khi thấy Tuấn kéo lê những ngày cuối cùng của mình trong rượu và tuyệt vọng. Hãy cho em cơ hội "trả nghĩa" Tuấn một lần".

      Bố Thùy hy sinh khi cô mới lên mười. Năm Thùy mười bốn tuổi, mẹ Thùy chết trong một tai nạn giao thông. Không yên tâm để Thùy sống một mình giữa thành phố lớn, ông ngoại từ Thái Bình lên chăm lo cho Thùy. Tiêu chuẩn 13 cân gạo và khoản tiền tuất của bố phải chia đều cho hai ông cháu. Mảnh sân trước nhà ngày mẹ còn sống thường là nơi tụ tập của bọn trẻ trong xóm đã được hai ông cháu biến thành vườn rau, mùa nào thức ấy. Bạn bè của mẹ Thùy thỉnh thoảng ghé thăm, người cho mớ rau, người tặng nải chuối. Các khoản đóng góp ở trường của Thùy thường được giáo viên chủ nhiệm cùng cán bộ lớp vận động từ quỹ Hội cha mẹ học sinh. Sợ Thùy "mặc cảm" mỗi khi lớp tổ chức các buổi đi chơi, lúc nào Tuấn - lớp trưởng - cũng nghĩ ra một cuộc thi nào đó để Thùy thắng cuộc. Hết lớp mười, Tuấn thiếu một điểm vào đại học, Thùy đỗ vào Cao đẳng sư phạm. Tuấn nói sẽ đi làm việc để nuôi Thùy ăn học.

      Tuấn đi theo xà lan chở hàng liên tỉnh, có khi cả tháng mới về. Lần nào đến thăm Thùy, xe đạp của Tuấn cũng chằng buộc gạo, mắm, muối, thực phẩm đủ cho Thùy sống cả tháng tiếp theo. Có lần Tuấn đề nghị "hay là chúng mình lấy nhau để ông ngoại có thể yên tâm về quê..." Thùy nói đợi khi Thùy ra trường, xin được việc làm thì Tuấn sẽ phải lên bờ đi học lại để Thùy có cơ hội "nuôi Tuấn ăn học".

      Thùy ra trường, sinh viên sư phạm thất nghiệp cã dãy. Thùy xoay xở đủ nghề: đan len, thêu hàng xuất khẩu thậm chí in cả vàng mã.... để lo cho cuộc sống của hai ông cháu. Tuấn vẫn đi về, nhưng số tiền Tuấn kiếm được vẫn không đủ cho đám cưới của hai người. Rồi Tuấn bị bắt vì tội buôn lậu. Mấy trăm bao bột mỳ trên chuyến tàu Thống Nhất chở vào Sài Gòn đã bị quản lý thị trường bắt giữ. Ngày Tuấn ra tòa, Thùy đã khóc không còn nước mắt. Án phạt tù hai năm. Tuấn dặn Thùy phải tự lo liệu cho bản thân. Những tháng đầu, Thùy thường đi cùng mẹ Tuấn lên thăm Tuấn. Khi biết có Thùy đi cùng, Tuấn dứt khoát không ra nhận quà thăm nuôi. Từ sau đó mẹ Tuấn thường đi một mình. Ngày Tuấn được tha, Thùy tìm lên tận trại để đón, nhưng anh nhảy lên chiếc xe của gia đình mà không nói với Thùy một lời. Gia đình Tuấn sau đó chuyển hẳn vào Sài Gòn. Hai người hoàn toàn mất liên lạc với nhau từ đấy.

      Ông ngoại mất, rồi Thùy gặp Dũng.

      Một lần, khi con Hậu mới lên bốn, Thùy đang lúi húi quét bụi cho những cuốn sách không bán được thì một người khách bước vào. "Chị cho tôi mua toàn bộ số sách này nhé". Thùy giật mình đánh rơi chiếc phất trần. Giọng nói ấy dẫu trong đám đông cả ngàn người Thùy vẫn nhận ra. Tuấn nhấc bé Hậu lên quay tít mấy vòng rồi nói: "Con bé xinh quá. Mình đã từng mơ có một đứa con gái như thế này". Tuấn kể sau khi chuyển vào Sài Gòn, anh đã đi học trở lại và bây giờ đã trở thành máy trưởng trên một con tàu viễn dương. Tàu của Tuấn chuyên chạy tuyến châu Âu nên mấy tháng mới về một lần. Chuyến này, tàu trả hàng ở phía Bắc nên Tuấn tìm đến thăm Thùy. "Chỉ cần Dũng làm khổ em một lần, anh nhất định sẽ không tha thứ cho anh ta". Tuấn tặng Thùy một lọ nước hoa Chanel 5. "Chính mùi hương này đã bắt anh phải quay lại tìm em. Em hạnh phúc là anh yên tâm". Sau đó, mỗi lần tầu cập cảng phía bắc, Tuấn lại đến thăm Thùy với một lọ Chanel 5. Trong tủ phấn của Thùy, sản phẩm Chanel 5 đã có một bộ sưu tập với đủ mọi kiểu dáng, kích cỡ. Có lần Thùy hỏi sao Tuấn không lập gia đình. Tuấn nói, lúc trước Tuấn không lấy vợ vì không gặp được ai như Thùy. Sau này, Tuấn đã tự cho phép mình buông thả mỗi khi tàu cập đất liền... "Mình chẳng còn xứng đáng với ai và cũng chẳng muốn làm khổ ai nữa. Chỉ cần Thùy vẫn cho Tuấn ghé thăm mỗi lần về lại thành phố này là được".

      Bẵng đi hai năm, Thùy không thấy Tuấn trở lại thăm mình. Cô nhờ bạn bè cùng lớp tìm kiếm giúp thì được biết Tuấn đã phát hiện ra mình bị nhiễm căn bệnh thế kỷ. "Cậu ấy không còn ra hình người nữa rồi". Và Thùy đã gọi Dũng về.

      Dũng có một tháng để làm mọi giấy tờ cần thiết cho hai con đi theo mình. Con Hậu mười bốn tuổi, đã ra dáng như một thiếu nữ. Nó hứa với mẹ sẽ chăm sóc bố và anh Nhân chu đáo. Dũng ký sẵn vào tờ đơn ly hôn. "Khi nào muốn, em có thế ký vào phía bên kia và gửi ra tòa án. Chắc là em sẽ phải tự giải quyết mọi việc một mình. Anh sẽ không về nữa".

      Thùy gửi nhà cho một người em của Dũng trông coi. Tiền cho thuê nhà hàng tháng được gửi vào một cuốn sổ tiết kiệm. "Khi ba bố con về sẽ có tiền chi tiêu". Cô vào Sài Gòn tìm Tuấn. Những ngày đầu, Thùy phải tá túc tại nhà một người quen. Tuấn không tiếc lời nhiếc mắng, sỉ vả Thùy chỉ để cho cô nghĩ lại. Mẹ Tuấn cứ ôm lấy Thùy mà khóc. Bà giữ Thùy ở lại nhà mình: "Con đừng bận tâm đến những điều nó nói, có con, bác đỡ đau hơn...". Thùy đã giúp Tuấn đứng dậy và sống nốt những ngày còn lại một cách hữu ích. Cô cùng Tuấn tham gia "hội đống đẳng". Họ trở thành báo cáo viên của nhiều cuộc tập huấn về AIDS và phòng tránh AIDS. Cô cùng Tuấn đến các bệnh viện thăm hỏi những bệnh nhân đang ở vào giai đoạn cuối. Tuấn đã trở lại "chàng lớp trưởng" vui nhộn và hóm hỉnh của ngày xưa. Những lúc chỉ có hai người, anh thường nhắc Thùy dùng nước hoa Chanel 5 rồi cứ thế hít hà. Một lần, khi Tuấn đã phải nằm liệt một chỗ, Thùy hỏi tại sao Tuấn lại chỉ tặng Thùy Chanel 5 trong khi ở Pháp cỏ đủ các hãng nước hoa danh tiếng. Tuấn kể một lần bước ra từ một quán ăn trên đường phố Paris, anh đã nhìn thấy một cô gái có mái tóc dài và đôi mắt buồn như của Thùy. Không hiểu vì đôi mắt hay mùi nước hoa đã dẫn dụ mà Tuấn đi theo cô ta đến tận bãi đậu xe. Cô gái nổ máy đi rồi, Tuấn sực tỉnh và chạy vào các cửa hàng mỹ phẩm gần đấy. Ngửi tới hơn hai chục loại khác nhau, Tuấn mới xác định được nhãn hiệu Chanel 5. Và một ý nghĩ thôi thúc Tuấn quay về gặp Thùy. "Mình sẽ lấy vợ nếu Thùy thực sự hạnh phúc".

      Sau khi lo liệu xong cho Tuấn, Thùy mua một túi hoa khô đặt lên bàn thở và dặn mẹ Tuấn tẩm Chanel 5 vào đó mỗi tuần. Cô trở lại căn nhà cũ của mình và mở lại quầy sách. Dũng đã học xong và đang được giữ lại làm trong phòng nghiên cứu khoa học của trường. Thằng Nhân đã tốt nghiệp đại học từ năm ngoái và đang định học tiếp cao học. Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hấu hết sinh viên tốt nghiệp đều trở lại trường để "đợi thời cơ". Con Hậu đã vào đại học được hai năm. Hai đứa vẫn thường xuyên gửi email về hỏi thăm mẹ và "chú Tuấn".

      Cách đây mấy tháng, thằng Nhân viết thư thông báo: "Bạn con về Việt Nam ăn tết. Mẹ sẽ nhận được một món quà đặc biệt". Tết âm lịch qua lâu rồi vẫn không thấy thằng bé mang thư và quà tới. Trước Valentine hai ngày, Thùy đang gói sách cho một cậu bé mua quà tặng bạn gái thì thấy có người hỏi thăm tên mình. Thằng bé tự giới thiệu là bạn của Nhân. Nó nói bác Dũng và Nhân dặn ngày hôm nay mới được đến chuyển quà. Nó để lại số điện thoại và dặn: "Nếu cần giúp gì cô cứ gọi cho cháu". Tiễn thằng bé ra cửa, Thùy trở vào run run mở gói giấy có in hình những trái tim đỏ và hồng đan xen vào nhau. Chiếc nhẫn cưới Dũng tặng ngày xưa, trước khi chia tay cô đã trả lại cho Dũng. Một chiếc vé máy bay và một lá thư mời. Trong tấm thiệp có hình cậu bé có đôi cánh thiên thần đang giương cung bắn, Dũng viết "Anh và các con vẫn đợi em".

-------------


Thơ

— Viết bởi phandinhminh @ 07:15

Hỏi ai

          
          Hỏi em mười năm có lẻ
          Nên tình, hẹn về tâm tư
          Tưởng gần, mà hương không nồng
          Sao rơi đành lòng không xa
 
          Hỏi em mười năm có lẻ
          Tóc hoa sợi bạc sợi nâu
          Thời gian giọt dầu rót vội
          Em cười ngấn phố chợ Đông
 
          Hỏi em đạp xe một chiều
          Liễu xanh phủ dọc phố quê
          Nhớ xưa, có hàng trứng cá
          Gặp em quả mọng cuối hè
 
          Hỏi em đường xa phố xa
          Đầm Ghềnh ngát ngát mùi sen
          Biết cô gái quê lên phố
          Tóc sao lại khuyết bên này
 
          Hỏi em nụ cười ròn nắng
          Đường xuân bỏ xuân chật ngày
          Mai về dông dài phố ấy
          Gặp đâu mùa sen tràn hồ
 
          Hỏi ai mười năm xa nữa
          Cởi ngày, buộc tháng, buộc năm
          Gặp đâu đây hàng trứng cá?
          Tiếng cười chảy vào ngày xưa ./.

 

 


Truyện ngắn

— Viết bởi phandinhminh @ 07:38

Truyện này vừa đăng trên Văn nghệ già số 25. Đây là bản nguyên. Chắc vì thời lượng chữ trên báo có hạn nên Ban biên tập có cắt một số đoạn. Hu hu.

 Phần mềm

 

Phan Đình Minh

       - Anh viết được phần mềm thì đỡ ngại.

      Tiếng thở dài của Đông hòa tiếng gió phập phào ngoài cửa sổ.

     Chuyện là, phần mềm HOX2 Đông đứng tên nhưng đưa về cho tôi lập trình. “Cơ quan nhiều người biết. Ngượng quá”. Hôm trước về quê, Đông buột miệng kể cho bố chồng tôi nghe. Ông cụ lạnh băng, buông câu: “Ngượng gì, ăn cắp đâu mà sợ”. Đông tái người, đầu gằm xuống, trông tựa ngỗng đội lá khoai.

      - Anh viết, có mà thành rác chữ.

      Tôi bĩu môi rồi với tay lên bếp tắt tạch nồi canh mướp đắng nhồi thịt. Ngoài đường, từng bụm bụi đất ném ràn rạt vào tường đầu hồi mỗi lúc có chiếc ôtô tải chạy qua. Căn nhà run như người bị trúng gió. Nhớ ngày nào, khi mới tốt nghiệp trường tổng hợp chuyên ngành lập trình là tôi xin ngay về làm việc ở viện máy cùng Tổng công ty với chồng. Không biết hồi đó có phải vì yêu nghề! Mà viện máy của Đông, ba năm nay chẳng có phần mềm nào ra giàng cả.

      - Bố muốn mẹ thử nghề thôi. Điếc thì uổng.

      Nói xong, Đông rúc mũi cù cù vào bụng cu Quy, khiến thằng bé cười nẩy cả người lên. Tôi yên lặng nhìn chồng

     “Cây nhà lá vườn, chứ sáu triệu đồng bèo bọt, giá ở châu Phi cũng chẳng bói ra”.

     Nỗi buồn không đáng ở đâu bỗng rấm rứt lan trong tôi như có hàng trăm con mạt lần mần.

     Dưới kia, sông ngầu ngầu máu cát.

     Mặt trời đã tắt hừng, bởi đám mây trở mưa đang liếm dần từ đây tới.

     Ngồi trong nhà, tôi bắt đầu nghe rõ tiếng Vờ kéo về, dàn dạt mé bờ đê.

 *****

      - Chú cho cháu cái thiết kế hệ thống.

     Đông thập thò mãi ở cửa phòng ông Quảng. Hơi lạnh của chiếc điều hòa nhiệt độ 18000 BTU loang dịu góc hành lang. Mùi nước hoa xịt phòng thoang thoảng, khiến Đông nhẹ bẫng người.

     - Thiết kế gì? phần mềm cần gì phải hệ với thống.

      Chết cha. Ông Quảng lại phán không cần bản thiết kế hệ thống mới gay. Mặt Đông bạc phệch như tờ giấy ăn, chuyền dần sang dừ đỏ. Anh đứng như trời trồng, dũi mãi mũi giầy muốn thủng tấm thảm chùi chân mà ông Quảng chẳng gọi vào, cũng không đuổi ra. Con chim sẻ mắc kẹt từ hôm qua trong hành lang kính, cứ bay loạn xạ, bỗng lao phịch vào vai Đông, làm anh giật bắn người. Trấn tĩnh một hồi rồi Đông cũng liều hé mắt nhòm vào. Hoảng hồn. Trong phòng, ông Quảng đang gập mình lên màn hình máy vi tính. Đông thoáng nghe thấy gì chiu chíu như tiếng va chạm binh khí kim loại. Chết cha, đây là trò chơi game Võ lâm truyền kỳ. Giời ơi. Không có lẽ ông Quảng tiêu khiển thứ tào lao này trong giờ hành chính. Sếp bộn việc cơ mà?! Bên trong, ông Quảng vẫn đang say máu phóng ngựa, vung đao, vẻ mặt đầy căng thẳng và chắc chắn sếp không còn nhớ Đông đang chờ bẹp dí bên ngoài. “Chuồn thôi”- Đông lắc đầu ngao ngán. Anh nhón dép khỏi cửa phòng Viện phó. Trời bỗng kéo mây đen. Đông ngó xuống sân, ái ngại. Chiếc xe máy wave tầu của anh dính tí mưa là không thể nào nổ máy được!

     Nguồn cơn chuyện thụt thò trước cửa phòng viện phó là việc Đông muốn “truyền” lời vợ tới chủ nhiệm dự án điều tra cơ bản HOX. “Phải có mô đun phần mềm, mới bắt tay lập trình được”. Tôi giải thích tam phen tứ bận, Đông mới vỡ vạc cái gọi là sơ đồ thông tin đầu vào, thông tin đầu ra của phần mềm HOX2. Rồi giỗ đầm, tát hậu tôi đôn đáo gặp “bên A” là nhóm HOX nhờ tư vấn thiết kế mô đun quản lý dữ liệu phần mềm. Thú thực, tâm trạng tôi lúc ấy thất vọng lắm về tính khả thi của phần mềm, tựa như người đang nhặt gió, ném vào gió... và đến hai tuần sau, cũng xong cái thiết kế hệ thống ban đầu. Đông lại cất bước tới cửa phòng ông Quảng, tất nhiên kèm cây thuốc lá 555 gửi mua tận sân bay. He he, hôm nay không thấy mùi nước thơm xịt phòng, cả hơi lạnh của chiếc điều hòa phả ồi ồi khi mở cửa. Có mùi dầu gió nồng nặc. Ông Quảng đang say rượu, đầu ặt ẹo. Ông không thèm nhìn nội dung bản thiết kế, chấm bút. Đông gập người đón tờ dự toán rồi quay người vọt ra cửa nhanh như con Giôn phóng qua bờ rào khi vớ được cục xương nhà hàng xóm. “Chữ ký ông này lạ quá, tròn vo như chiếc xe lăn leo dốc”- Tôi liếc tờ dự toán Đông hý hửng về khoe. Thế là... lịch không thèm xé. Thằng Quy cơm tự xúc, đêm, bị bỏ lăn lóc bởi tôi và Đông phải dồn sức cụ thể hoá sơ đồ mức khung cảnh, sơ đồ mức phân rã để cho phần mềm làm được cái việc ông Quảng nôm na: “Ấn chuột là biết số lượng máy móc tốt, xấu, hỏng hóc thế nào? đã bảo trì, bảo dưỡng hay chưa?” ông sẽ ký rẹc lần nữa, tài vụ mới ok, đề xuất tiền... Ôi. Một trăm cái lý sẽ chẳng vui khi cái lý giản đơn của sếp không… “wan”.

     Liếc ra cửa sổ, tôi phát hiện dưới lòng sông có quầng hoa súng nở xanh biêng biếc. Kỳ lạ, sông Hồng lại có hoa súng nở.

 *****

      Ông Quảng thăng viện phó từ trưởng phòng kế hoạch nên đường đi ngõ tắt, việc thanh quyết toán các loại chuyên đề ông nắm chắc vì từng làm chủ nhiệm mấy chục đề tài trong Viện. Nghe chuyện, Đông phục lắm. “Chủ nhiệm một đề tài đã nhược người, thế mà...”. Ở ghế chỉ đạo, có nhàn thì ông Quảng cũng phải quán xuyến được công việc chung chứ. “Quan trọng, là sáng tác vô khối sân bóng ảo, để cầu thủ như mình đá, ghi bàn” - Tôi ranh rảu, hài hước với chồng. Lạ thật, ngợp đầu chuyện vậy, mà ông Quảng vẫn đủng đỉnh, tướng tá lúc nào cũng phây phây, trán  nhây nhẫy bóng. Ngày đầu ông Quảng về Viện, tiếp xúc, ai cũng xít xoa: “Cơ quan nghiên cứu mà có người hào hoa thế. Cái gì cũng sâu, cũng thạo”. Tóc ông Quảng thì luôn bồng bềnh như mây xếp. Về mái tóc, nhiều người đã nhầm. Ông Quảng bị hói nặng, khéo vun mà được cái đầu giả, lọn có, búp có, chuẩn như lợp, cầu kỳ giống đầu văn nghệ sỹ. 

     “Thời sạch sẽ các cụ hói qua lâu rồi”- Tự tin về mái đầu đẹp, ông Quảng hay kháy khót, phân biệt mình với các vị giáo sư của viện. Nguyên nhân cũng bởi mấy năm nay, Hội đồng giáo sư luôn để tiếng trong các cuộc nghiệm thu đề tài khoa học. Các cụ hói toàn “nghiệm thu vô tội vạ. Trăm phần trăm”. Đơn vị nào đưa đề tài lên, đều “xét chọn”. Điểm thầu, bao, cũng cân. Chuẩn không cần chỉnh. Phong bì đã nhận, phải vỗ tay thôi. Không lẽ xẻn chữ “khen”, “tốt” là đằng khác. Chuyên đề sập xệ thì Hội đồng chấm “trung bình”. Có đủ thang để ghép. Mấy gã thất sừng không chức, không quyền lúc nào trõm được chuyện tò he, lập tức ngoác mồm gọi nhóm kinh viện này là “gà”. Trà dư tửu hậu, lão Toán vấu còn vổng vào mũi Phó giáo sư Vở: “Hội đồng các ông là chuột”. Đau, trước kia nghe vậy thì đau lắm. Giờ, ông Vở cười: “Mày mắng cả làng... bố điếc!”. Tiên trách kỷ, hậu trách... Nguồn cơn bởi xuân, hạ, thu, đông, túi các giáo sư ta hiện bốn mùa rõ rệt. Đầu tháng lĩnh lương; một tuần sau xẹp lép; năm ngày nữa còn vài đồng lẻ; mùa thu heo may  mát mẻ chẳng cần tiền uống nước trà... lương lĩnh, đưa các chủ tịch nhà, tiêu, đủ thứ chắt bóp, sẻ san ở cái thời buổi giá cả sinh hoạt, gì cũng dựng đứng, tăng vòn vọt. Đời sống các vị “Sư” viện, ngạch lương ngất nghểu còn vậy, nữa là lũ hậu sinh... vài tháng nay nhà tôi còn phải gửi về quê một khoản, góp với em chồng lo cho ông nội thằng Quy. “Bố con mình mà không có phần mềm thì gay to”! - Đông hay nói vào tai thằng Quy mỗi lúc tôi ở cạnh! “Rõ thối!”, lần nào nghe chồng ngọt, tôi cũng lẩm nhẩm câu này, rồi bất chợt ngó xuống phía dưới... mặt đỏ ran!

      Công việc hàng ngày bên viện máy của tôi... cũng nhàn! Thời buổi viết phần mềm lấy công làm lãi qua rồi. Qua như lời chào ở ngưỡng cửa. Các sếp thích duyệt mua hơn là đầu tư kinh phí cho “chuyên viên nội mới ra trường” viết. Giờ may mắn vớ cái HOX2 bên cơ quan chồng, mừng rơn như bắt được của vì mấy tháng nay, xoay mãi chửa ra tiền thay giác mạc cho ông nội thằng Quy. Phần mềm HOX2 khái toán số tiền gấp mười lần nhưng chi rải rác, về tay mình vỏn vẹn còn sáu triệu. Thức đêm, thức hôm hai tháng rưỡi mới viết xong. Phim “Bỗng dưng...” trên tivi mấy đứa tre trẻ khen hay lắm, bận, cái romos điều khiển chẳng nhớ vứt đâu. Có điều tiền đến tay ít quá, xót như muối bỏ ruột lại tấm tức phải ký nhận HOX2 những bẩy mươi ba triệu để hợp thức giấy tờ. “Luật rồi” - Ông Quảng nói. Lãi suất hất lên giời chín mươi phần trăm, mà Đông còn thẽ thọt, luồn cúi mọm người ông Quảng mới cho lập trình. Gọi là sớt lộc. Đâu yên, nay ông Quảng dọa, mai móc mảy, rồi bắt nhập vào cơ sở dữ liệu một đống số má hổ lốn nhóm điều tra cơ bản thu thập trên bàn nhậu mấy chục địa phương về. Thế là hai vợ chồng tôi trằn mình thêm gần tháng nữa. Rủn người, nhớ lại, mặt chóng như hít bãi nôn “sản phẩm” của Đông hôm khao phòng nhận được hợp đồng! “Không khả dĩ thì chuyển đối tác, nghe”. Thỉnh thoảng, ông Quảng lạnh tưng. Giời ạ. Khả thi, ông ấy phát chệch là “khả dĩ”. Cái câu nói chệch chết tiệt khiến tôi và Đông lẩm nhẩm trắng đêm giải nghĩa...

     - Em ơi?

     - Gì.

     - Nghiêng mình, cho anh xuống.

     - Chán thế. Kiếp trước nợ anh gì không biết!

     - ... nửa quả táo.

     - Sì. Khéo miệng cũng không được...

     - Sình sịch.

      Thằng Quy nói mê, rồi tủm tỉm cười. Tôi quàng tay, ấp má con vào bầu ngực thây nẩy, cương cương vì sắp đến ngày! “Ông này viết như ngói, nói thì đa nghĩa, khó hiểu bỏ xừ” - thẳng rẵng nửa tiếng đồng hồ, Đông còn buột miệng. Mặt anh bệch như cục sáp, ghênh ghếch ngó vợ con. Ừ mà, hai tháng vừa rồi mình đã mướt mát vãng qua phòng tài vụ, khi cân hoa quả, lúc kẹp cá trứng mua siêu thị, cả cái giường xếp để chị kế toán trưởng ngả lưng buổi trưa, gọi là tra mỡ pêđan. Kiểm đủ, sao vẫn thấy khô dầu. “Giá kể ông nội đừng chờ giác mạc nó già” . Tôi lại thoáng nghe Đông xít xoa. “Không biết có phải tại giếng làng!”.

     Ngày ông nội thằng Quy mắc chứng đục thủy tinh thể, kèm mộng mắt kéo màng, Đông liên tục về giục cha đi chữa nhưng cụ cứ lần khần “để già hẵng khoét” - mắt chứ đâu phải quả trong vườn mà chờ “chín già...”. Thực ra trong nhà, Đông nói chẳng có ai nghe, cầm như hắt nước ra sân gạch lúc nắng to, dù đứng chức cả. “Có mà Cả Tụn” - thì đấy, tên bọn trẻ ranh đặt cho ông “Cử” biển nhãn nhất làng. Ở làng thế, lên nhà, tôi phải đóng từ cái đinh mắc màn. Nổ cầu chì điện, cũng hàng xóm xem xem. Còn ở cơ quan, đương nhiên Đông cam phận hát bè... “Liệu, khi bé, anh có níu cành bàng khoắng chân xuống giếng đình?!” – Tôi lan man nghĩ rồi lẩm bẩm. Mắt ríu lúc nào không hay.

     Bên ngoài, gió đêm đập đì đụp tấm giấy dầu che cửa chuồng gà.

     Khào khào tiếng vạc lạc đàn rơi xuống đoạn sông nghẹn dòng quãng trên kia.

*****

      - Ủa, em gặp ai?

     Ông Quảng thẳng lưng, rời mắt khỏi màn hình máy tính.

     - Cháu xin gặp chú.

     Tôi bước tự tin qua cánh cửa bọc da, nặng chịch. Trên tay vung vẩy tập thuyết trình phần mềm HOX2.

     - Gặp tôi?

      Ông Quảng tỏ ra ngạc nhiên. Tôi nhoẻn miệng cười, cố hé chiếc răng duyên và cái lúm đồng xu. Ông Quảng dùn gối, ấn quả bóng xanh vào dây gánh. Màn hình kêu rộp... điểm thưởng 200.

     - Cháu là Huệ, vợ Đông, chú.

      Ông Quảng đóng cái cúc thứ 2 chiếc áo véc mầu xám tro đang mặc. Rướn người, chìa tay về phía ghế sô pha. Mắt ông đánh ra cửa rất nhanh. “Cánh cửa lúc vào mình đã khép, mà lò xo tự động bao giờ chẳng kéo nó chặt chàng” - ý nghĩ lướt trong đầu tôi.

     - Thế à. Tưởng bạn bên Vụ đối ngoại. Mình già lắm à?!

     Ánh mắt ông Quảng ánh lên. Tay ông vân vê quả đào bằng đá ngọc bích, nhìn phát ghét! Mà sao lại mang đào tiên lên bàn làm việc!

     Mắt cười, mồm cười, mũi cười.

     Trán ông Quảng nhẫy nhầy như có nắng đậu trên.

     “Ông ta trẻ thật”- Tôi lại nghĩ. Ông Quảng buông quả đào đá, đưa tay lên ốp ốp mái tóc cứng đét vì gôm.

     - Chú viên mãn chán. Anh Đông gọi vậy, nên cháu...

     Tôi cười tin cậy. Ông Quảng còn dễ chịu hơn những gì Đông kể ấy chứ.

     - Đông là việc của nó, mà thôi, tuỳ Huệ.

     - Cháu đến báo cáo cái phần mềm HOX2.

     - À, ừ, phần mềm.

     Con chim sẻ bữa nọ bị lạc, suýt chết đói trong hành lang kính, hôm nay lại sa tới. Nó cứ chấp chới rồi lao mình bùm bụp vào ô cửa mé ngoài.

     Biết bay mà còn lạc!?

 *****

      - Em sao vậy. Mơ gì, nước mắt đầm đìa thế này?

      Đông xoay tôi lại phía anh, vừa ầm ờ, mà mắt vẫn nhắm tìn tịt. Tôi đâu có mơ. Tôi lại rùng mình. Đã ba đêm rồi tôi khóc vì không thể quên cảm giác bàn tay đuồi đuội, mềm oặt, lạnh băng của ông Quảng luồn dưới eo mình.

     Lão này mắc bệnh hoa liễu, không cơm cháo gì được nhưng thói gió trăng luôn ngời ngời trỗi dậy khi vấp mắt bất cứ người khác giới nào. Nghe đồn, có lần trà dư tửu hậu lão buột miệng tuyên bố với đàn em:“Bút của anh có thể viết đủ loại giấy”. Mỗi lần vậy, lũ đàn ông cấp dưới lão lại quay mặt, trõ vào tai nhau “Cái thân bềnh bệu kia có lên máy ép mía cả ngày cũng chẳng thể ra một giọt thứ nước tạo người quý giá đâu”. Hơn nữa, lão đang mắc chứng... biến dạng, của mình mà lão chẳng dám nhìn. Mấy tháng nay, đông tây y, chui lủi chữa hoài không khỏi. Cực nhất là tối tối phải nghĩ đủ mẹo, kiếm đủ cớ để cách ly bà vợ già nhưng lắm tiền, vàng.

     “Chiều chú tí. Chú chỉ nhòm. Ôi cháu đẹp. Cháu có kêu, chẳng ai cứu lúc này”.

     Nỗi sợ hãi cùng cực, sự khinh bỉ, dẫn đến cảm giác chai lì, tràn ngập trong tôi. Tôi nghe ùng oàng tiếng bom tấn dội từ xa. Rồi đôi mắt nhằng nhịt mộng thịt của ông nội thằng Quy cứ lồ lộ. Mặc kệ cho bàn tay những mỡ là mỡ, mềm oặt rờ rịt suốt quãng eo thân thể, dịch xuống... từ đầu đến chân tôi lúc này tựa bùn lã tã rơi khi vách rơm tuột nhứng.

     “Thế đã xong chưa ông?”.

     “Ôi, chú mệt”.

     “ Mệt, còn ham!”.

     “Cháu đẹp quá. Chú chết mất”.

     “Tôi ghê tởm”.

     “Chú sẽ ký HOX2, mai bảo Đông làm các thủ tục thanh khoản”.

     Lão Quảng bệt xuống nền nhà. Hốc mắt lão thấy hai dòng nước. Hô hô. Lần thứ hai tôi gặp lão khóc, một lần khi bố lão chết, lão đứng cạnh quan tài giơ tay cảm ơn mọi người đi quanh. Hồi đó tôi cứ tấm tắc, ông Quảng này thương bố ghê. Còn lần này...

     Điều gì mơ hồ, trống rỗng, tan loãng, vỡ vụn trong tôi.

     Tôi trố mắt trước đống thịt nhão nhoẹt như chum đất gặp mưa rào.

     Cầm tờ kinh phí dự toán phần mềm HOX2 tôi bước khỏi cánh cửa nặng nề. Tuy trong lòng không hề có ý nghĩ phải giấu giếm ai tai nạn vừa rồi thế mà bàn chân tôi vẫn lặm lội tựa chân trộm, vụt qua cái sảnh hắt nắng chiều, nhảng vội bên gốc sung trụi quả,... nước mắt lưng tròng, tôi tức tưởi, rã rười suốt đoạn đường về nhà. Buổi chiều hôm đó, cơn mưa trái mùa thấu xương và gió như đình điệu; thằng Quy suýt chết ngạt trong áo mưa,... rồi ba đêm nay, tôi khóc thầm mà chồng không hề biết.

      Bên ngoài, gió oang oác lùa vào gian nhà để trống rồi lượn lờ đớp mặt sông quãng xa xa, chỗ mấy đứa trẻ con nghịch dại sụt cát chết tuần trước. Mồ hôi tôi vã ra, bụng đau thắt tựa như đang bị co vắt thứ gì trong gan, trong ruột.

*****

     - Con mời thầy và các ông vào mâm.

      Tôi khoanh tay, nháy chồng khi thấy Đông cứ phùng má diễn thuyết về cuộc cách mạng xanh bên Ấn Độ cho mấy cụ đồng niên với ông nội thằng Quy, sang tiễn bạn già lên thành phố khoét giác mạc.

      - Em ngồi đây hầu thức ăn các cụ.

      Giọng Đông khô tong, nghe khác mọi ngày.

      - Thôi, để chị ấy xuống nhà dưới ăn.

      Ông nội thằng Quy hừ một tiếng.

       - Vâng. Con còn phải thu xếp mấy thứ vật dụng cho ông.

       - Phải. Chị nhớ cầm cái gối bương. Không, tôi chợp mắt chẳng được. Chị đi.

      Tôi lụt cụt bước vào trong. Mấy cô em chồng đang chờ chị dâu bên mâm cơm dưới nền đá hoa rời rợi.

     Mà căn nhà này cũng mới làm lại. Nguyên do là đầu năm kia, nhân lúc các con tề tựu, ông nội thằng Quy tuyên bố “Cuối năm tôi sửa nhà”. “Chuyện nhỏ, thầy”. Đông buông câu gọn lỏn. Tôi nhoài người bấm mạnh vào bàn chân chồng. Đông ngó sựng vợ. Mặt anh vểnh lên “Em này. Nếu tiện, ta xây lại luôn”. Tôi cúi xuống, kịp chứng kiến ánh mắt sắc lẻm của mấy cô em chồng. Về nhà, tôi tấm tức suốt đêm: “Mình là cả, nhưng nghèo. Sửa nhà cho ông, lấy tiền đâu?”. “Ừ mà. Anh cũng phải thể hiện”. “Cái nhà xây từ lâu chắc rã rồi... còn đập bể nước cũ ra... bẩy tám chục triệu chứ chơi”. “Thì, để anh tính”. “Giời ơi”. Tôi như cây nước đá bị dòng nước nóng xuyên tâm. Bốn tháng sau, rồi không biết tiền đâu, mấy anh chị em cũng sửa xong cái nhà khang trang cho cha. Tổng kết kinh phí, vợ chồng tôi lo nhiều nhất. Mấy chỉ vàng hồi môn bay theo xi măng, vôi cát, gạch lát nền. Cả mười mấy triệu vay lãi cao.

     Cây nước đá thủng toang hoác không biết lấy gì hàn!

     Chỉ có Đông được mẻ vênh vang với xóm với làng.

*****

       - Tôi không đi ôtô buýt, say lắm. Anh chị cho đi tầu.

      - Quê mình đâu có đường tầu!

      Đông nhăn nhó

     - Ấy là, nói vậy. Đi tầu tôi mới không say.

      Mãi rồi, tôi cũng điều được cậu em họ lái xe tắc xi về chở ông nội thằng Quy lên thay giác mạc. Ngày nhập viện, ông cụ xúng xa xúng xính trong bộ cánh lụa tơ tằm tôi vừa sắm.

      - Ông mặc quần áo viện vào.

      Chị bác sỹ trẻ măng, giọng căng đầy

      - Không, tôi mặc thế này cho mát.

      - Đây là quy định, ông ạ.

      - Tôi nói là không.

     Cô bác sỹ trẻ trố mắt nhìn ông già nhà quê, trông tựa một thầy đồ.

     - Tôi sẽ bảo với thằng Đông.

     Vẻ mặt ông nội thằng Quy không đổi. Ánh mắt ông bò từ chiếc gối tre, dần lên tường, dừng nơi cửa kính, ở đó đang vờn vàn chùm dâu da xoan chín.

      Không biết hình dạng ông nội thằng Quy thô tháp, hay câu nói dáng dấp quyền uy khiến cô bác sỹ mặt còn lông măng cụp ngay xuống. Cô đứng lặng một hồi rồi quay gót. Thâm tâm cô nghĩ: “Thằng Đông” con cháu cụ, chắc cỡ bự nên ông già nhà quê này mới dám phá lề luật vậy. Ông nội thằng Quy giơ tay quật úp cái gối bương đến rầm, ngả lưng thẳng rẵng khiến bốn cô thực tập sinh đứng như trời trồng, không dám đo huyết áp. Mấy hôm sau, khi các xét nghiệm đông máu, chỉ số đường huyết, chỉ số giãn nở đồng tử được tiến hành, cô bác sỹ trẻ liếc tấm biển “Chuyên viên chính” tôi đeo trên ngực, miệng cười:

      - Anh Đông là gì của cụ nhà, chị?

      - Là con trai, bác sỹ ạ.

      Từ hôm đó, ông nội thằng Quy như VIP trong cái buồng bệnh tự nguyện này. Tất nhiên, giác mạc thay cho ông phải loại đắt tiền nhất. Việc xếp lịch mổ theo đó cũng thuận lợi. Ngày ông nội thằng Quy lên bàn, ở cơ quan Đông thay tôi đề mô phần mềm HOX2 trước Hội đồng nghiệm thu, bởi các loại giấy tờ đều do anh đứng tên. Trong bệnh viện, mỗi mình tôi chân nam ốp chân chiêu. Hình như ông nội thằng Quy cũng biết mọi người tưởng con trai mình “bự” nên ông chẳng sốt sắng sự có mặt của Đông. “Nó làm được gì, chỉ mồm thôi”- Câu cửa miệng mỗi lúc nhắc đến cậu quý tử trưởng họ Cao Tuấn nhà ông.

 *****

     Phòng nghiệm thu đề tài, bóng điện vàng nhòe. Rèm buông. Trang trọng.

     Cà phê đen, cà phê nâu, cà phê đá.

     Mận Mỹ, táo Mỹ, nho Mỹ, bưởi da xanh.

     Đông sụng sịu trong bộ comple quá khổ may khi còn học ở nước ngoài. Rụt rè, e hè, hắng giọng:

     - Thưa hội đồng, HOX2 nhằm quản lý dữ liệu từ dự án điều tra cơ bản HOX. Phần mềm tối ưu về kiết xuất thông tin đầu ra. HOX2 thực thi chớp nhoáng các phép tìm kiếm, kể cả toán tử, toán hạng, hay trả lời câu hỏi động, hỏi sâu. HOX2 gồm 4 mô đun…

      Những gì tôi dặn, Đông nhại rất thuộc bài.

     Ông Quảng vít mico, cắm vào cái miệng hôm qua ông mới đắp chín chiếc răng sứ, chi hết mười bốn triệu đồng.

     - Mời Hội đồng đặt câu hỏi về tìm kiếm.

    Khắp mặt hội trường. Ông Cầu, cô Thưởng là trưởng các ban trong Viện, có mặt từ sớm. Ông Chang người Đài Loan, đại diện công ty GiaoLong được mời riêng, giờ mới phụng phiệng bước vào cửa.

     - Ghét. Đồ chim lợn.

     Toán vấu buông câu, như kiến gáy. Mặt ông Quảng thoáng sạm. Hai phóng viên tờ tin nhanh của Viện, ống kính dài ngoằng trước bụng, đi lại vênh vang. Nghiêm trọng. Tất cả khách mời; thành viên hội đồng, được ông Quảng chọn và lệnh cho Đông đưa ý kiến phát biểu tham luận trước cả tuần.

      - Viện phó chu đáo thế, chả trách tém phần to.

      Toán vấu lại xổ vào tai Đông. Chỉ ngại ông Khả trưởng phòng đo lường, mệnh danh tà vẹt, là “mười phần trăm”cứng đơ các hội nghị nghiệm thu đề tài của Viện. “Qua được, coi như xong” – Trước lúc họp, ông Quảng nhắc Đông.

     - Ông Khả hoạnh họe, liệt, ai dám ký nghiệm thu.

      Vấu lại xì xòe.

      Lúc đầu, ông Quảng mời ông Vở. Ông Vở có biệt danh là “Bát sách”, vì nghiện tổ tôm, miệng lúc nào cũng tía lia hơi men. Hôm qua, không hiểu sao Viện trưởng đổi danh sách mời, ông Vở thành ông Khả. Mắt ông Quảng lộn tròng, nhưng mồm bặm tựa dính hồ. Biết sao, có mà nhổ bọt lên giời. Từ đầu buổi tới giờ, ông Khả chưa có ý kiến gì. “Chắc khả dĩ. À, khả thi thôi”- Đông nghĩ bụng rồi thở phào khi phép toán tìm kiếm, một thành viên đưa ra được Đông ấn chuột. Tiếng vỗ tay ràn rạt. Ông Quảng đứng lên:

     - Ngoài tính năng lọc nhanh các vị vừa chứng kiến, HOX2 còn có thể mịn sâu, vượt trội những phần mềm các nước trong khu vực.

      - Anh Quảng nói rõ hơn.

     Ông Khả lên tiếng.

      - Thí dụ, khả năng tìm kiếm rộng. Thuật ngữ lập trình gọi là tráng kính.

      -  Đề nghị nói cụ thể và đề mô trước hội đồng.

     Ông Khả lại nghiêng người, hắng giọng. Ông Quảng đưa hai tay lên ốp tóc. Hớp ngụm nước khoáng thật to, ông Quảng trịnh trọng:

      - HOX2 xử lý được hết các bài toán về tính hệ thống, tính phù hợp, cả tính đồng bộ nữa, không kể chủng loại phương tiện mà viện đã trang bị cho các địa phương nhiều năm nay. Anh Đông tác vụ đi.

     Đông đang mơ màng ngó hành lang kính dài trước cửa phòng ông Quảng. Sao con chim sẻ mải chơi trò gì mà lạc đến nỗi chẳng tìm thấy đường ra?

      Ánh mắt Đông mơ màng.

     Các khuôn mặt thành viên Hội đồng khoa học những thịt là thịt chập chờn trong ánh điện vàng.

     Đông cứ nhìn mãi cái cà vạt đỏ nhễ nhại như máu chảy từ cổ ông Quảng xuống đến cạp quần, rồi anh giật thột người bởi rõ ràng bắt gặp mình vừa bị ảo giác. Đông dụi mắt. Cà vạt của ông Quảng mồn một mầu mỡ gà. Lắc lắc đầu mấy cái, Đông tỉnh dần ra.

      - Dạ thưa, tác vụ gì ạ?

      Ông Quảng bạnh hàm.

     Đông lúng túng rê chuột, máy tính bỗng tắt phụt. Màn chiếu Prozector hiện lên dòng chữ No sign (Không có tín hiệu).

      Không khí buổi nghiệm thu đặc nghẹt. Mặt ông Quảng đỏ ăng. Còn khuôn mặt Đông tái dại, bàn tay sũng sĩnh mồ hôi.

      - Lưỡi để tủ lạnh à? Gọi ngay cho vợ cậu. Phần mềm không mịn thì lĩnh giấy thôi việc.

       Ở bệnh viện, ca ghép giác mạc cho ông nội thằng Quy đạt kết quả “tuyệt vời” như lời bác sỹ trưởng kíp mổ nói. Đã lâu mới có ca, đường rạch đẹp vậy. Ông nội thằng Quy đang thiêm thiếp khi thuốc tê chưa tan hẳn.

      - Chị Huệ có điện thoại.

       Báo tin buổi nghiệm thu thành công đây. Tôi đứng dậy, mắt bỗng hoa. Từ sáng đến giờ chưa có gì vào bụng. Theo chị y tá trực, tôi rảo bước đến buồng bác sỹ.

      - Huệ à. Hỏng hết rồi. Chú Quảng bảo em về Hội đồng ngay.

       Quầng sáng vàng hình cánh cung lại nhoáng lên trước mắt. Lần này rộng và nhiều tán sắc hơn.

      - Anh không thể đặt lệnh tìm kiếm không phù hợp được.

      - Mã nguồn đâu có dữ liệu này.

      - Em ơi, chú Quảng nói phải tìm, không thì bẩy mươi ba triệu…, rồi công việc của anh.

      - Giời ơi.

      Tôi bật tiếng kêu. HOX2 không làm được những điều ông Quảng đòi “Mô đun tìm kiếm dựa vào các trường mẫu phiếu điều tra, thoả mãn phép toán OR định tính do phấn khích ông Quảng ợ dại thì phần mềm này sẽ có giá triệu USD và Huệ nhà mày thành lập trình viên ở Silicon!*”. Giọng Toán vấu rin rít xòa vào khuôn mặt như cháo vữa của Đông.

     - Giời.

     Đông thốt kêu.

******

     Tôi run tựa trúng gió độc.

     Hành lang bệnh viện nhòa như ai hắt toan vẽ lên tường.

     - Chị Huệ đâu, pha cho cốc sữa.

     Tiếng ông nội thằng Quy váng dọc mấy căn phòng.

     -  Đồ nợ.

     Cúp vội điện thoại tôi còn nghe thấy câu chửi của ông Quảng eo éo trong ống nói.

     “Làm mịn thế vẫn chưa xứng sáu triệu đồng hả ông Quảng ơi?!”.

     Lửng thửng mãi, cuối cùng tôi cũng lê được bước về buồng hậu phẫu. Ông nội thằng Quy như Tây lai mới đấy mà đã kéo gỗ khình khịch. Tôi nhón chân múc một thìa sữa bột vào cốc. “Thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng”. Quai hàm ông nội thằng Quy trễ tận yết hầu, thỉnh thoảng lại máy, máy. Tôi khẽ ấn chiếc khăn bông cho miệng ông khép lại, rồi cóm róm ngồi xuống mép giường. Vất vả, buồn tủi dâng nám gương mặt, dồn vào khóe mắt tôi cay xót. “Mẹ thương ông nội à?” Thằng Quy cùng cô em chồng tôi ào vào buồng bệnh. Thấy ông nội nằm thẳng rẵng, băng kín mặt, mắt mẹ thì rơm rớm, nó thỏ thẻ vào tai tôi: “Con cũng thương ông nội”. Thằng bé vươn tay kéo đầu mẹ ngả vào ngực mình. Không chắc cái ức đầy đặn, tròn trịa của con có là chỗ tựa lúc này, nhưng tôi không thể đặng đừng vì chỉ chút nữa thôi, tôi sẽ quỵ xuống./.

 

* Thung lũng công nghệ cao của Mỹ

Tháng 3 năm 2011

 PĐM

 

 

 


Bình thơ

— Viết bởi phandinhminh @ 16:45

VTV tuyển 2 -

Đa sắc âm, đậm đà, lan tỏa…

 

                                                                                     Phan Đình Minh

alt

      Sen tháng 7, còn cuộng nhuộm sương. Ngắm gì nữa!

     Tôi buông máy, lòng nôn nao buồn khi nghe lời cáo hẹn của một bạn văn phương Nam ước ra Bắc ngắm ao sen nở của cha tôi ở Cẩm Giàng. Tức thì, tôi lại nghe cú phôn.“Em Duy đây. Anh viết lời bạt cho Văn thơ Việt tuyển 2, nhé”. “Ủa. Lời bạt, chẳng dám. Trong tuyển, toàn khựa. He,”. “Đại để bình, đi đâu đấy em đọc”(đọc kiểu mãi võ ở các cuộc trình bày thơ đây, hè) - Tác giả chính nhóm tuyển VTV tuyển 2, chủ nhân của web vanthoviet.com muốn tôi viết một vài cảm nhận lúc tập tuyển thơ VTV tuyển 2 đang đổ chữ trong nhà in. “Ừ, hợp, thì tớ viết. Mà thư thư nhé. Đang đầu cá úi”. Thế là tôi nhận được VTV tuyển 2 nặng chịch: 5.1 MB.

     Tập thơ trình bầy trang trọng, cả về hình thức lẫn dung lượng. Tỉ mẩn, kỹ lưỡng, mỗi tác giả đều có ảnh, có trích ngang lý lịch sáng tác, giải thưởng, quê quán, điện thoại, rồi mail nữa. Tôi lướt lướt thấy có người còn ghi: nguyên làm gì, nguyên là gì… thoạt đầu cảm giác hơi không thiện cảm, vì tính tôi cầm tác phẩm thường ngó vụp nội dung chứ không khắm khía sự trang hoàng, cấu trúc.

     Đa số tác giả được nhóm biên tập duyệt, chọn ở đây tôi đều đã biết, có đọc trên trang vanthoviet.com. Để bình một bài thơ, với tôi khó và ngại lắm chứ nói gì “bình” cả quyển như ý nhà thơ chủ biên “đặt hàng”. Thôi, đọc hết, cảm nhận tới đâu, nói thế, không trúng thì xin lỗi tác giả, sau ngâm nga lại. Kha kha.

     “Khát đến cháy lòng một tiếng chim kêu - Tác giả Nguyễn Tấn Ái, trang 07, là câu thơ thứ nhất…, ngày thứ nhất tôi đọc đến câu thơ thứ 1000 là: “Ngoài kia ong bướm đang mùa sắc hương” - Hoàng Hiếu, trang 71 thì trời sáng mất. Phần nội dung thơ đến trang 254 bao gồm 118 tác giả, ở đó gồm những người đã thành danh, sự nghiệp thơ, văn vững chãi, có những người còn rất trẻ về nghề, thanh sắc, gieo vần,  còn vùng vụng, họ đang đi những bước đầu, tươi rói, đọc, cẩm như đụng tay vào cảm xúc họ. Có những người tuổi đã cao, nhưng thơ rất trẻ, mới! Số tác giả trải dài đều cả ba miền Bắc, Trung, Nam, giọng điệu khác nhau nhưng một cái chung đậm đặc tâm hồn thơ, tự sự cạn mình cùng nhân thế, cạn mình với cái đẹp an nhiên vũ trụ ban cho cuộc sống, cho đàn bà bằng hết trái tim, xúc cảm cuộn trào. Họ nói về nỗi đau đồng loại, thấy, thấm và xót. Họ chia sẻ với các em nhỏ, các bà mẹ cô đơn không nơi nương náu. Họ giãi bày lẻ loi buồn rụng khi đang giữa biển người… Tất cả hòa quyn, sắp xếp đa sắc, đa âm, lan tỏa.

Ta xuống phố quảy tình theo rao bán
Chẳng ai mua- chẳng ai trả xu nào
Ta quảy tình đem lên non rao bán
Gặp sư già ngồi tịnh dáng tiêu dao

Ta lại quảy tình tìm ra biển lớn
Biển mù khơi và gió hú lưng đèo
Ta chán nản xô tình rơi xuống biển
Thôi trở về - chắc làm một tỳ kheo…?

        (Tỳ kheo - Hồ Chí Bửu)

      Khí khái và rổn rảng chất phương Nam - Hồ Chí Bửu. Tôi dám chắc để có được những câu thơ với cái tựa độc đáo: “Tỳ kheo”, tác giả phải trải một đời sống dầy dạn, phong trần lắm. Và cuộc đời gặp nhiều trắc trở này, nhất là đường tình (đoán vậy), với bao bận long đong, xuống phố, lên non, ra biển… rao bán tấm chân tình mà chẳng ai mua. Chẳng ai mua, không có nghĩa “chân tình” không thứ thiệt, mà thứ bán không tìm ra địa chỉ xứng để trao bán. Cuối cùng người đàn ông “khất thực cuộc đời” đành bất lực chỉ biết hỏi biển, hỏi gió, ngửa ngực khiên cang bởi trái tim đã dâng thấu kiệt. Rồi, buông tấm chân tình vô thức vào thứ lớn lao, cao quý, tôn vinh đó là biển. Biển hiến chọn, biển cạn đời nuôi nấng sự tồn vong thế giới, “Biển buồn bạc tóc ước ngày xưa” và biển sẵn sàng nhận về mình mọi mặn mòi đong đắng nhân luân. Cuối cùng cái đích của con người là sự thanh khiết, nhẹ nhàng, âu mọi lẽ cũng đều sắc sắc không không. Điểm tận, vẫn nên tìm đến Đạo - Khất làm nền. Ru.

Nữa:

“Nửa môi xanh mới ấm nụ cười

Nửa còn lại tím bầm da thịt

Cho được sống rồi ban cho được chết

Kiếp phù sinh thân phận xẻ làm đôi”

(Ô hay - Nguyễn Lâm Cân)

     Đọc không nghiêm ngắn, không suy ngẫm. Đọc kiểu diều đứt dây, đọc như chuyển động của cawngguru chắc sẽ gặp khó khăn, e khó bắt được mạch thơ của những rung động ngách khuất. Rồi có khi phải chùng xuống, phải lắng lại mới hiểu phần nào cái ý sâu xa, nỗi đau có cội, nỗi đau không chỉ là cơ lý phận người bèo bọt, rong rưởi, sẻ chia. Thế mới biết kiếp trần ai mỏng manh và nhân quả. Âu mọi lẽ sẽ là đầy chỗ nọ, vơi đoạn khác mà thôi. Ai biết ngày mai vực, núi thế nào!

     Rồi nữa, nỗi buồn kết tủa, nổi buồn có váng, nỗi buồn loãng tuyệch ngái lên đầu ngón thành 0110001…vô thức và hoài cổ.

“Một mình chát với vườn tình trống trơn

 Một mình chát với nguồn cơn”

( Chát một mình – Lê Bá Duy)

     Người đàn ông khắc khoải mối tình xưa. Nhớ lắm, thương lắm, ước lắm. Nhìn vầng trăng rằm mà cảm như thấy khuyết, từa tựa như nhìn hoa Tầm xuân thấy nở ra biêng biếc. Cái buồn ở đây như càng buồn hơn, chơi vơi, khô khiết hơn khi mối tình xưa cũ của mình lại ở ngay kề bên, ngày ngày ngó áo chồng nàng, khô, thì con tim mình càng ướt nhượt, càng muội lời thề “Cầu vồng đi đón cơn mưa”. Lời ước vô tình thủa hoa niên, bị ngày tháng đồ cóng, nấu chín một cách gạn rựt và hiện hữu. Cái đau ở đây là dường người con gái, mối tình thủa xưa (dẫu có khi đơn phương ở đàn ông) thì cứ vô tình, vô tình như… phơi áo, để ánh mắt chàng láng giềng càng ngày càng xế hoải cung chiều!

 “Mặc tôi treo lửng vầng thu
Khuyết rằm nửa độ thực hư xế trời.
Chật ngày rộng tháng em phơi
Áo khô tôi ướt muội lời hiện sinh”

( Mặc tôi - Nguyễn Văn Chức)

     Hoặc nỗi buồn đau, chờ đợi ấn dấu ở người đàn bà vọng phu trong lênh đênh, yên ắng, sẻ đắng với người phương xa biền biệt. Cái khác ở đây với những khổ thơ trong bài Mặc tôi là sự vời vợi trông chờ, thất vọng mỏi mòn về lỗi vô tình tận phương xa của người ở xa. Sự cô đơn người đàn bà càng nhân lên khi không được thiên nhiên, cảnh vật đồng điệu. Chỉ bốn câu thơ, mà ta cảm thấy sự đơn chiếc đến độ khiên cứng. Không biết đây có phải một chinh phụ, hay là người yêu vô thức, chờ vô thức, điểm tựa chốn chờ chỉ là gì đó ngày xưa không nói trong bài, mà dường đọng ngấn, ước vọng mong manh.

 “Khuya thức mình em lênh đênh

Hàng cây vô tâm yên ắng

Sao không thì thầm sẻ đắng

Ai còn mê mải phương xa?”

(Về đi Anh - Bùi Thị Thu Hằng)

     Nhìn xuân, cảm xuân bằng tả, ở Nguyễn Đức Hòa thực tài tình. Có không gian bắc cầu dớp gió chìu chuộng cái lạnh bò ngang. Nắng thì chưa kịp về bởi hơi đông tham lam lấn át, giờ xuân thì đến rồi, làng xuân thì đã có mặt mà cành mai vẫn xương xóc, nụ vẫn mơ màng chưa sẵn sàng đón đợi. Phải đây là tâm trạng của ai ấy không. Sự giận dỗi mong chờ suốt cả mấy tháng, phòng trống giường hoe, gối chăn ủ sưởi… để khấp khởi tần ngần đón sự giao hoan trời đất, lòng người, ý xuân, khí xuân chăng

 “Tháng Chạp chìu chuộng gió đông

Nắng vàng hờn dỗi nên không quay về

Cành mai xương xóc nụ mơ

Chắc gì nở kịp, để chờ xuân…chơi !”

( Tần Ngần Xuân - Nguyễn Đức Hòa)

      Chỉ hai câu thơ thôi, cái đẹp của cô gái miền Tây Bắc, xứ đào mận lạnh cảm như bừng lên. Má hồng ở đây cảm bởi hương rượu phấn hoa, nếu ai một lần thử nếm. Cái đẹp không rạng rỡ, chói lóa mà kín đáo, nhuần nhụy, thắm hồng như cành đào khe núi sau nhà. Người con gái xứ Tây Bắc tỏ tỉnh bằng sắc diện của đôi gò má, ánh mắt chỉ e ấp ngó qua vai bạn, hấp hé qua vành ô, vành khăn hoặc rập dừng đổ bóng chiều tà bên cây mắc mật hiên nhà.

 “Giấu câu thơ trong nụ hoa
  Cài lên mái tóc hương thoa má hồng!”

(Gặp em Tây Bắc – Trần Vân Hạc)

      Tôi cầm bằng, tác giả Phạm Ngà phải là hoặc đã từng là họa sỹ, hay làm công việc của các nhà điêu khắc. Chỉ có tâm hồn họa sỹ, điều khắc mới thi pháp chữ thành tranh nhanh,  gọn và nhiều ẩn  trắc đến vậy.

“Những ngọn núi nháp vào bầu trời

Những con sóng nháp vào biển khơi

Như kiếp phù sinh”

( Bản nháp - Phạm Ngà)

      Tôi rất thích và trân trọng sự khám phá, thể nghiệm trong thơ. Đọc VTV tuyển 2, tôi gặp khá nhiểu giọng điệu lạ, nhờ đó VTV tuyển 2 lần này khác hẳn với VTV tuyển 1, góp vào sự đa sắc, đa diện hội tụ nhiều cái lạ đáng nói, đáng kể ở đây. Số lượng những nhà thơ, nhà văn ít nhiều có thành tựu, đã được đánh giá. Số lượng tác giả là Hội viên Hội nhà văn VN, Hội viên của các Hội văn học nghệ thuật các tỉnh không phải chiếm đa số tác phẩm trong tuyển, điều đáng mừng là nghệ thuật thơ toàn tập không chênh nhau mấy giữa các tác giả. Có phải là sự chọn lựa kỹ càng của ban tuyển chọn, hay mặt bằng thơ hiện nay ngày một cao, giả hoặc các tác giả mỗi khi cho xuất hiện tác phẩm mình đều thấy cần phải khe khắt, bài sau, bản sau chí ít phải khác bản, bài trước. Tức, ý thức chuyên nghiệp trong người sáng tác, giờ, ngày một được chú trọng.

“Bút lửa

Tô từng cặp chân mày lá liễu

Trên những khuôn mặt chữ điền

Biến anh thành em

Gắn những hàng ria rậm”

( Cây bút lửa - Nguyễn Bá Hòa)

 Hoặc nữa, cũng của Phạm Ngà

“Trần tục và mộng mơ

Như mối tình câm lặng

Nháp vaò đời nhau

Buồn vui muôn thuở”

     Tôi vô cùng xúc động, cảm xúc khi đọc những câu thơ giản dị, bình dị đến không thể hơn nhưng thật lung linh ở hai tác giả có độ tuổi cách nhau là 40 .

“Mẹ vẫn cõng con như ngày xưa

Hai bốn tuổi mà như còn bé nhỏ

Chỉ vì con nên đời mẹ khổ”

( Mẹ - Nguyễn Văn Hợp – sinh 1986 – Đắclăk)

Và:

“Em gọi ca ba là Ca bình minh

Ý nghĩ ấy gặp em như là sự vô tình”

 ( Ca bình minh – Lý Phương Liên – sinh 1948 - ở Tp. Hồ Chí Minh)

     Dũng tướng Hylap, Achiles sinh ra đã được tiên tri sẽ chết trong chiến trận. Để con bất bại, Thetis đã nhúng cậu bé, giữ bằng gót chân, vào nước song Styx.  Achilles mình đồng, chỉ gân gót là yếu vì không dính nước. Vì chàng chặt đứt đầu tượng thần Apollo nên Apollo hướng mũi tên của Paris vào gót chân, nơi cơ thể Achilles có thể bị tổn thương. Achilles gục xuống chết. Thành ngữ "gót chân Achilles" ra đời. Từ sử tích, chiến tranh khốc liệt, Đông Nguyên hướng câu chuyện huyền thoại thành rung động thơ tình, thế mới biết thi ca thật là huyền diệu, làm được nhiều điều

 “Achille tránh gót chân trên gai nhọn

Ta không nỡ tránh em vì ngày trắng đêm đen

Một chiều nắng không như màu hạt dẻ”

Ngọn đồi và hoa

     Tôi biết Trần Mai Hường qua hai tập thơ: Sóng khát - Nhà xuất bản văn học và tập: Đó là em - Nhà xuất bản Hội Nhà văn, cùng những bài thơ của chị trên trannhuong.com; vanthoviet.com.vn… ở hai tập thơ kia thực sự không để lại ấn tượng mấy trong tôi. Giọng điệu, ngôn từ, hình tượng… cảm xúc nên chăng cần giản dị nữa, mộc hơn, bớt tỉnh táo một chút. Ngẫm bởi thi ca cốt lõi, trụ được thường ở sự tự nhiên, gần kề với đời sống, nói về rơm là cảm sực mùi rạ quê, nói lục bình trôi trôi là thấy mướt mắt ngái sông, nói về nỗi buồn chinh phụ tự cảm giọt mưa cũng khô quắt. Nên giữ phong độ ở dăm bài vừa rồi ấy. Thực sự TMH bứt phá trong một số thơ gần đây. Tôi nghĩ, nếu cô gái xứ Đoài này cứ giữ mạch vậy thì con đường thơ chị sẽ bền, dài, còn như hai tập kia, nghĩ, chị sẽ lặng hòa vào số đông thơ nữ tp. HCM bây giờ.

     Tôi đặc biệt thích hai câu của chị trong bài thơ 1h50 phút tuyển chọn trong tập.

“Lưng chừng bình yên...lưng chừng hạnh phúc...lưng chừng khuya...

Anh có nghiêng xanh khát nhớ

Hãy mở toang chốt cửa”

( Vào lúc 1h50)

     Có người nói với tôi, thi ca dù giản dị đến đâu nhưng vẫn không thể  không vươn tới, không giấu được sự sang trọng, điều đó tìm thấy trong hầu hết các câu thơ của những nhà thơ nổi tiếng bây giờ. Đọc VTV tuyển 2 tôi cũng bắt gặp rất nhiều câu thơ, bài thơ của nhiều tác giả vậy. Hãy ngân giọng đọc những dòng sau của Mai Hữu Phước. Thật đã.

 “Ta từng bước gõ giày trên góc phố

Hoàng hôn ơi, xin khoan hãy lên đèn”

(Góc phố)

Hoặc của Phạm Phù Sa:

“Câu hát ngày xưa mẹ hát ru nôi

 Rót mật phù sa đi qua bao thế hệ

 Ngày xưa Cố ru Bà, Bà ru mẹ

 Bao đầu xanh tuổi trẻ phôi pha câu hát vẫn không già”

(Nơi những mùa xuân đi qua)

      Đọc thơ, biết liền độ tinh quái hay sự thông minh của người viết. Sự ẩn dấu càng mơ hồ thì sự thành công của nhà thơ càng cao, thành công nhất là lúc này đọc thế này, cảm thế này, ngày mai đọc lại thấy khác, sự cảm lại khác đi. Còn đánh giá, hiểu thế nào cũng thấu, ấy là kỳ thơ.  Có những bài thơ nghe một lần, đọc một lần là nhập tâm liền, bất luận trạng thái người đọc, người nghe lúc đó ra sao. Hãy đọc những dòng sau và cảm nhận.

 “Hỏi gió! Gió lảng chốn nao

Hỏi mây! Mây ở trên cao vợi vời

Hỏi trăng! Trăng của Cuội rồi

Hỏi em! Em đã là người- người ta…

Thì thôi cứ để xót xa”

Tương tư - Lê Ngọc Tâm

Và nữa:

“Biển tung hồn miên ca

Qua ẩn hình dụ hoặc

Tôi hồng hoang tìm nhặt

Dáng hồn nhiên tình đầu”

( Bóng thức - Nguyễn Tân Thái)

      Hàn Tương Thi, viết vẫn như thế nhưng cứ khiến tôi rất muốn đọc thơ anh, giọng điệu không mới, thể thơ không mới, cách nhìn không có gì mới nhưng hình tượng văn học để gầy ý tưởng, tâm tư thì luôn mới. Đấy là cái tạng, cái thế và cũng có thể nói bút lực của nhà thơ. Tả khúc củi cũng hay, nói mãi về một câu nói mà mãi không hết ý, mỗi bận nghĩ về gió thấy gió lần này hình như là gió khác, mỗi lần nói chiều, thấy chiều … mê mải. Thật là lý thú

 “Bao lần em hẹn… bao lời…

Cho thu vàng ngõ anh ngồi mỏi mong”

(Đừng cho mùa thu qua mất )

      Tôi tâm đắc lắm khi gặp những khám phá, sự khám phá về cảm thức trước những điều “nhàn thức”- Cũng là một hình thức đặc biệt của thi ca và thi phẩm, cách nhìn, cách cảm trước những cái bình thường, hoặc những điều đã quá nhiều người nói đến – Nó trực cảm nhưng không thiếu sự tinh tế, hiện nhãn nhưng rất mung lung lãng đãng, văn hoa mà khau khít với đời thường…

“Và một nửa nhân loại

Không thể sống

thiếu những đường cong nữ giới”

( Nghĩ từ những đường cong nữ giới - Nguyễn Văn Thịnh - Đắclăk)

      Hãy để ý nhịp điệu, vần điệu Nguyễn Văn Thống:

“Thênh thang

Chiều qua sông vắng

Ngập ngừng

Nắng chạy vào đêm

Thời gian như chiếc lá

Vàng một mùa xanh”

(Thời gian)

      Bâng khuông, tôi chấp một ly cafe và đọc vài lượt bài thơ Trăng nghiêng. “Bài này có gì lạ lắm”- Rồi tự thốt một mình cũng vài lần. Không hiểu từ suy nghĩ đâu đâu, từ cảm thức ẩn dụ gì, với cách gieo vần thế thôi. Giản dị, mà sao cứ ngâm ngấm, tê tê thế vào tôi,… rổn riểng… những động từ pha phương ngữ “Dỗ mềm”, “trăng ngắm”, “diệu vợi” ngân nga, nhậm tỏa cùng ly cafe thơm đắng, mềm tôi, giữa cái đêm trong veo bên lan can có khóm hoa Trạng nguyên quý.

“Trăng nghiêng

trăng ngắm nhìn đêm

Em nghiêng cơn mộng dỗ mềm giấc mây

Gió nghiêng

gió rung tàn cây

Mây nghiêng,

trăng tỏa ngất ngây mộng vàng

Đệm cho em hát

tiếng đàn,

Vang xa diệu vợi ngân vang

tuyệt vời!

Trăng nghiêng

bát ngát bầu trời

Em nghiêng nửa khúc tình chơi vơi buồn”

(Trăng nghiêng - Song Thùy)

      Và những câu thơ sau thực sự tài hoa, một khám phá của nghệ thuật thơ tình (nói không ngoa đâu)

 “Ngõ về đời quá mênh mông

Bàn chân trở gót ngày không phía ngày”

(Mưa trái mùa – Trương Thị Tiên)

Nữa:

“Có tiếng khóc giữa cánh đồng hoa

Bây giờ là tiết trời mùa hạ

Hoa kiệt sức

Không còn thơm nữa”

( Cánh đồng hoa một chiều mùa hạ - Nguyễn Bá Trình)

“Ngọt ngào lắm khúc dân ca

Một câu hát nhớ

Thương ba bốn lần!

Động Tiên xa thế mà gần…”

 ( Mùa thu sông Mã - Thanh Trắc Nguyễn Văn)

………

      VTV tuyển 2 sẽ là một món quà nếu trên giá sách nhà bạn có được. Quý, vì nó không nhiều trong đó các nhà văn, nhà thơ đã thành danh, mà ở đây đúng nghĩa của giá trị sản phẩm văn chương. Xin cảm ơn những người tuyển chọn, nhà thơ chủ biên Lê Bá Duy đã chắt cạn những giọt mồ hôi, miệt mài tháng ngày qua để đem đến cho mỗi chúng ta trước hết là thi phẩm văn học, sau nữa là sự hội tụ đa sắc diện của các giọng thơ đẹp, thú vị ba miền. Để kết bài bình, chính xác là kết những cảm nhận về tuyển tập VTV tuyển 2 với rất nhiều câu thơ hay, tài hoa, có lẽ được chấm bình, tôi xin mạo muội chọn bốn câu thơ hay nhất, duy nhất nói về cái lúm đồng tiền của thế giới “cong” huyền diệu trong 4000 câu thơ của tuyển tập này:

 “Nào hay cái lúm đồng tiền

Bé ti, bé tẹo cũng dìm chết nhau”

(Cái lúm đồng tiền - Quang Chuyền)

Và:

“Lúm đồng tiền giữa chợ phiên

Em như xuân chín thiên duyên đang chờ”

(Ngu Ngơ - Lê Minh Dung)

 Hà nội, hè 2011

PĐM


Lại Thơ thẩn

— Viết bởi phandinhminh @ 22:20

Hữu hạn

 

Anh chợt hiểu khi ôm cha vào lòng

Mà giật mình thấy ông nức nở khi nghe những vần thơ về mẹ

Rằng người đàn ông vững chãi,

Vượt qua bão giông,

Mồ côi từ trong bụng mẹ

Từng ngủ say cạnh xác người nhúc nhỉu năm 1945

Oằn lưng làm phu khuân vác,

Đạp bùn cày vỡ đất nuôi con

Lại khóc như trẻ nhỏ

Lại kiệm một lời khen ông láng giềng.

 

Gió về heo hút mình cha,

Nỗi buồn hoa bưởi rơi rơi cuối ngày

 

Hoảng hốt đếm từng tiếng Cuốc

Khắc khoải mong ngày ém mặt trời buông!

 

Năm tháng dài đằng điệp

Nhọc nhằn chát mặn sự người

Hòn đá vô thường

Ngọn gió vô tình

Lời cay độc vô ý

 

Kiếm tìm đâu tình yêu từ mùi cháo để tủ lạnh

Cây mọc ở bồn, ăn phân vi sinh vẫn ra hoa rực sắc

 

Ai viết tiểu thuyết từ phiêu diêu của não bộ!

Giấu nỗi buồn bản thể khi tuênh lời trên bục

Giấu sự tham lam bằng hào quang những cuộc thi

 

Mắt ai không sáng lên khi thấy của cải giữa giời

Đừng chê trách những kẻ gắp nhanh những món ăn chung…

Ra chợ thèm mua rẻ

Ra chợ ước mình bán đắt

Tốt xấu giao đấu tháng ngày

Đừng trách anh,

cầm tay em, vẫn ghé mắt khi thấy bóng hồng lướt qua

 

Nếu mai này mình có xa nhau

Dầu tình yêu còn gừng muối

Có lẽ là hữu hạn thường tình!

 


Tryện ngắn

— Viết bởi phandinhminh @ 14:04

Phóng sinh

                                                                     Truyện ngắn Phan Đình Minh

     Người phụ nữ nhỏ giọng, nghe da diết: "Cái số con sao khổ quá dì Tư. ảnh tử tế,  đâu đến nỗi. Đận, còn ghiền. Được đồng lời ở lò sấy vào chích, vào bót con nhỏ. Rồi thân tàn. Thằng Mừng sẽ không có Ba... nghĩ, mà nát ruột". Nói xong, chị ngước cặp mắt mỏi mệt chăm chăm ra hòn núi giả chơ vơ giữa sân quán. Nắng, gió hầm hập làm hòn núi khô xác, bạc khạch, cảm giác chỉ cần châm mồi lửa, hòn núi sẽ cháy bùng.

     "Lại một... nỗi lòng!" Tôi lẩm bẩm.

     Thìa cháo vịt cuối cùng nuốt phập phào, đắng ngoẹt.

     Xe nổ máy ì ạch, rồi nặng nề tăng tốc. Bức bối, khó chịu. Tôi hé cửa kính hứng mặt vào gió Cao nguyên dịu, se, vun vút bâng khuâng ngai ngái, đằm hương cà phê, hương rừng quện mùi đất bazan nồng nàn. Nhìn vào gương chiếu hậu, tôi vẫn bắt gặp khuôn mặt đẹp như trong các bức tranh của danh hoạ Goya. Trông chị lúc này buồn quá.

     Pleiku tràn trước mặt. Mưa đã vào mùa, dàn dạt trắng trời. Chiếc xe lầm lũi vào bến. Hành khách nháo nhào xuống vội rồi tạt vô mấy quán cơm, phở cuối sân. Vài ba phút thì lên xe ôm, taxi. Bến bỗng vắng, còn lại tôi và người đàn bà có khuôn mặt đẹp. Tôi rút áo gió, khoác lên người. Mưa ào ào, cuốn bụi đỏ ngầu sô về cuối bến. "Mình sẽ chờ lâu mới về được chú Chín đây". Cứ vậy, tôi sốt ruột nhìn mưa. Quay sang người phụ nữ, tôi ngạc nhiên bởi vẻ mặt bình thản có phần tư lự của chị.  Chị gọi ly chanh đá, hững hờ khua chiếc muổng lanh canh. "Xin lỗi, chị về đâu ?". Tôi hỏi. Mà không biết hỏi làm gì. "Đi Kon Tum, anh". Tôi mở to mắt: Bốn giờ chiều, lại đang mưa, đến Kon Tum năm mươi cây số. Dường như đọc được suy nghĩ của tôi, người phụ nữ chậm rãi: "Năm giờ có chuyến vét. Còn anh ?". "Tôi tới rồi..."

     Nhớ những điều nghe được giữa bác già và người phụ nữ nói với nhau lúc ở An Khê. Biết là tọc mạch, nhưng có gì cứ thôi thúc tôi cất lời: "Chị đi Nha Trang có việc?". Dừng giọng vài giây, tôi tiếp: "Hình như chuyện buồn ?". Thật bất ngờ, người phụ nữ không hề đắn đo: "Buồn... buồn lắm...".

     Mưa càng lúc càng nặng hạt. Như hàng trăm giàn nước ập từ không trung. Người ta nói, mưa cao nguyên có trận kéo dài mươi ngày. Rữa đất, thối cát, mưa làm rớt hàng ngàn chiếc bát đựng mủ cao su nông trường Đaksrai.

     Chuyến xe vét đi Kon Tum sồng sộc vào bến. Lượn một vòng qua cửa mấy quán cơm phở, cà phê, làm câu chuyện giữa tôi và người phụ nữ gián đoạn. "Thôi, kiên trì vậy. Không có lẽ anh không thấm cái tình của chị. Tấm lòng... sẽ đến được tấm lòng ". Mắt người phụ nữ nhoè nước.  Bóng chiếc áo bà ba màu mỡ gà chìm vội trong khối người chật cứng.

     Xốc ba lô qua vai, tôi xăm xắp ra khỏi bến. Cậu lái xe ôm người nhỏ thó, tóc ướt sượt, đưa tôi về tận ngõ nhà chú Chín Hường. Vừa đến cổng, tôi sững người thấy chú đang giơ tay vẫy vẫy chiếc xe đi Kon Tum, người phụ nữ có khuôn mặt buồn trên đó. Cánh tay của chị cứ thò mãi ra cửa chào chú Chín. Quay lại, chú đột ngột thấy tôi. Chú reo lên, rồi ôm chầm. Dễ có đến bốn năm năm hai chú con chưa gặp. "Thằng quỷ. Anh chị Thắng thường chứ?". "Trước hôm đi miền Trung, bố con khấn khoái: kẹt việc thế nào cũng phải lên, xem chú  ra sao ?".

     Khi đã yên vị trên ghế tựa trong nhà. Tôi lấy lọ thuốc chữa thấp khớp đưa cho chú Chín. "Chú biết không ? Đó, Bố con nhờ người mua tận  ấn Độ. Bố con lo cái đầu gối chú lắm". "Anh Thắng thiệt hết sức... Chú đỡ nhiều rồi. Mà quên, thư từ không khi nào nói Bố con hay ".

     Ríu... Ríu... xẹt,...

     Tôi giật mình nhìn ra. Hai con chim chú Chín nhốt trong chiếc lồng treo trước cửa nhà bỗng nháo nhác, kêu loạn xị. Tôi  phân vân. Không hiểu lý do gì mà chúng dáo dác thế? Chắc hai  con chim thấy  người lạ, nên hoảng hốt?

     Chú Chín Hường dáng dong dỏng. Chú thường vận bộ đồ màu đen thùng thình. Khuôn mặt chú Chín quắc thước. Tôi đoán chú độ này an nhàn. Thì thấy  đỏ da, mà còn chơi chim, cá cảnh. Giờ, trong nhà có mỗi chú, thím Hường mất được mười lần giỗ. Thằng Phác, con trai duy nhất đang bận tu nghiệp bác sĩ ở Úc. Chú thím ở với nhau mười một năm trời mới sinh được nó. Khi thằng Phác lên tám, thím Hường mất vì mắc bệnh ngã nước. Chú Chín không tục huyền, dồn tâm lực chăm lo cho  con.  Mà chú cũng mới nghỉ hưu, không làm trong mặt trận Tổ quốc tỉnh.  Ngày xưa, chú Chín Hường với cha tôi là bạn chiến đấu ở chiến trường nam Lào.

     Bữa cơm hôm đó chú Chín đãi tôi thật thịnh soạn, có thịt gà xé, tôm nướng, măng muối dầm ớt và thịt lợn rừng. Mọi thứ đều có sẵn ở cái chợ nhỏ gần nhà. Chuẩn bị trong bếp xong, tôi ra giếng tắm rửa. Ngay giữa trung tâm thành phố, có nước máy mà chú Chín lại dùng giếng đất. Có lẽ giếng Cao nguyên trong và ngọt. "Nhanh lên, ăn cơm con". Vừa nhắc tôi, chú Chín vừa quay ra nựng hai con chim trong lồng: "Bọn mi phải ngoan, biết điều. Ông sẽ mua mẻ kê mới. Đừng sợ nhau, đừng nháo nhác... hè" .

     Tôi để ý, trong lồng có hai cái lọ bé tí xíu đựng hạt kê gắn ở hai mé nan. Sao, lại dùng đến hai lọ thức ăn? không lẽ hai con chim này ăn... riêng? Tôi nghĩ ngợi. Nhìn kỹ, hai con chim không vì đói chắc chẳng buồn mổ thức ăn. Trông chúng rã rời, mệt mỏi quá, không còn sự giảo hoạt tự nhiên tạo hoá đã ban.

     Buổi tối, cơm nước xong. Tôi và chú Chín ngồi uống trà ngoài thềm. Chợt nhớ ra người phụ nữ đi cùng chuyến suốt ngày đường. Tôi hỏi chú Chín: "Chị phụ nữ lúc chiều là bà con mình hả chú Chín?". "à... ừ. Con nhỏ Phượng, cũng là con gái anh bạn huynh đệ. Nó đi Nha Trang, có mấy con khô, ghé qua biếu. ủa, mà con quen ?". "Thì con với chị cùng đi một chuyến từ Nha Trang. Chị tìm chồng hả, chú Chín". "ừ, thằng chồng..."

     Mặt chú Chín Hường buồn thẫm. Chú ngụm một cái xẹt, hết chén trà. Xong, nói nhỏ."... cái thằng... quá xá... chết bằm". Chú trầm ngâm rồi... đều đều: "... Căng tin bán ở nhà văn hoá Kon Tum con nhỏ Phượng thu nhập tạm tạm, kể cũng nuôi được cả nhà, tươm tất thì không mong nhưng cũng đỡ, nhàng nhàng. Xưa, ba con Phượng là chủ sấy và chế biến gỗ vào loại dầy vốn nhất Kon Tum. Thằng chồng nó làm thợ trong nhà. Anh Sáu Thực quý, giao phó công việc, rồi cuối cùng giao luôn cả con gái cưng hơn vàng cho. Mà hồi đầu, con Phượng đâu có ưng thằng đó, chúng lạnh nhau, vì anh Sáu ép. Năm 1994, anh Sáu mất đột ngột do tụ huyết trong đầu. Cái xưởng gỗ, về tay vợ chồng con Phượng. Thật chẳng hiểu, bao năm trong nhà, thằng đó không quậy. Thế mà sau khi Ba vợ mất vài tháng, nó đổ đốn, nhậu nhẹt, xỉn suốt ngày. Nó bảo: chơi cho đã, nhậu cho bõ bởi gần mười năm khổ quá, co ro trong gầm chạn. Thật, các cụ nói chẳng sai: thân sợ giạ, lạ sợ... lòng con người khó lường. Con nhỏ Phượng buồn, khuyên giải hoài không đặng. Nhiều lúc thằng chồng còn gây, hành hạ hai má con. Cái xưởng đình đốn, thua lỗ. Cách đây hai năm, nhân  con Phượng đi vắng, thằng chồng gọi người đến nhượng xưởng rồi xuống Nha Trang cặp với một con nhỏ, hùn  nhau dựng lò sấy. Chỉ có điều, giờ không sấy gỗ mà sấy cá. Thằng chồng biền biệt chẳng thèm đoái hoài vợ con. Chú biết con Phượng cũng hết nghĩa với thằng đó nhưng vì không muốn sai lời trăng trối của anh Sáu. Cứ hai ba tháng chị Sáu lại bắt con nhỏ xuống Nha Trang kêu chồng. Nó nói: dầu, bị ảnh hắt hủi nhưng má nó bảo: cố... để thằng Mừng sau có ba. Chú thấy trên đời ít người tốt như con Phượng... Ừ... Bà già lúc trưa là dì ruột chồng con Phượng, chắc bả cũng xuống Nha Trang có công chuyện nhưng giận không thèm gặp thằng đó".

     Tôi thừ người nghe chú Chín kể hoàn cảnh của Phượng. Thì ra ngọn nguồn vậy đó.

Hai con chim Hoàng Yến và Bạch Yến lại kêu ríu ríu. Chúng  hoảng hốt nhìn nhau rồi thảng thốt lao mình vào nan lồng xành xạch, vùng vẫy muốn thoát ra ngoài. Tôi thấy lạ,  thắc mắc trong lòng mà chưa kịp hỏi chú Chín. "Sao hai con chim cứ dáo dác thế chú?". Chú Chín thoáng nhìn tôi rồi gật gật đầu. "Quý lắm đấy. Chúng cùng giống nhưng khác loài. Con coi. Con có màu trắng tuyết là Bạch Yến, còn con phơn phớt này là Hoàng Yến. Con Bạch Yến trắng như bông tuyết, quý phái, nhưng yếu đuối. Con Hoàng Yến khoẻ mạnh, cứng cáp. Đấy... đấy, rất đặc biệt. Hoàng Yến có một chúm lông như cái mào. Cả ngàn chim mới được một. Hiếm lắm. Chú định ghép hai con. Chắc chắn sẽ được một loài  Hoàng Bạch độc đắc, có túm lông tuyệt tác trên đầu". 

     Chú Chín nói một mạch, tựa như gãi đúng chỗ ngứa. Nhìn chú Chín say sưa giảng giải, tôi cảm giác trên đời với chú chỉ mỗi điều duy nhất là... chim cảnh. Chú Chín nói tiếp: "Đây là hai con chim quý, em ruột chú ở Qui Nhơn biếu. Đã ba năm nay chú chưa gặp vợ chồng nó. Cậu em muốn giáp mặt. Chú thì lần lữa mãi không khi nào xuống được, cuối cùng nó phải kiếm bằng được Bạch Yến và Hoàng Yến rồi điện, chú mới chịu về. Đã hai chục ngày nay, chẳng hiểu sao ép hoài mà hai con chim không chịu...!"

     Thì ra vậy, con Hoàng Yến và Bạch Yến khác loài, chú Chín nhốt chung lồng để hòng tạo giống chim đẹp, có đủ đặc tính hai loài. Tôi ngỡ ngàng không thể nào tin được. Dù là chim nó cũng phải có cảm tình mới kết thành trống mái? Dù cùng loài mà chúng chẳng ưng nhau, cũng đâu được! Tôi bỗng buồn. Chú Chín Hường đã bất tuân cái lẽ thông thường. Chú cưỡng điều tự nhiên không thuận. Đừng nên. Làm trái tự nhiên có khi là có tội đó chú Chín. Nghĩ vậy, nhưng tôi chỉ dám can xa: "Chắc không ổn, vì chỉ có chung lồng mà chúng không chịu thì làm sao có thể...". "Phải kiên trì chứ. Nghề này đòi hỏi dầy công. Bay không biết, chú còn ghép được loài Ngũ Sắc với loài Quế Lâm nữa là". Biết không thể lung lạc được ý nghĩ ông già, tôi đành im.

     Hai chú cháu yên lặng rất lâu. Bên kia, chú Chín Hường chậm rãi rút cái tẩu thuốc gõ gõ vào thành ghế sa lông cho bã thuốc rơi ra hết. Xong đó, chú nhồi một mồi nữa vào nõ rồi thong thả châm lửa, bập bập. Chú Chín vừa rít thuốc vừa ngẫm ngợi điều gì lung lắm. Nõ tẩu thỉnh thoảng lại hồng rực. Và bất chợt, tôi bắt gặp sắc mặt chú Chín buồn đến dại.

     Sáng hôm sau, tôi lên công ty làm việc rồi ngày mốt đi máy bay ra Hà Nội. Chú Chín tiễn tôi tận ngoài sân bay. Khi đã yên vị trong nhà cách ly, bỗng tôi thấy một anh An ninh cửa khẩu dắt chú vào. Tôi ngạc nhiên. Chắc chú Chín quên nhắn cha tôi điều gì?. Dường đoán được ý nghĩ tôi. Chú Chín Hường lúng túng, trông đến tội:

     - Không có gì Dũng ạ. Chú phiền anh này cho vào, chỉ nói với cháu là chú đã thả hai con Hoàng Yến và Bạch Yến.

     Nói xong, chú cười hiền. Tôi nắm tay chú Chín lắc lắc:  

     - Thôi, con về. Chú gắng giữ cái đầu gối đừng để đau lại. Gửi thư cho Phác, chú cho con hỏi thăm.

     Mấy tiếng đồng hồ trên máy bay tôi cứ hình dung: Chú Chín Hường một tay giơ cao chiếc lồng chim, tay kia mở cửa phóng sinh cho hai con Hoàng Yến và Bạch Yến. Đúng là chim xổ lồng. Con Hoàng Yến và Bạch Yến vù ra, bay mãi lên, sau đó chúng xà xuống bên cạnh chú Chín, rồi lại lượn ríu vào nhau  lần nữa, trông như một điệu vũ cổ điển. Sau đó chúng rướn ức căng tròn bay vút vào không trung.

     Chú Chín Hường vẫn đứng như thế, tay giơ cao chiếc lồng chim. Bóng chú hoà vào ráng chiều Cao nguyên đẹp tuyệt./.

                                                                                                           PĐM

 


Viếng bạn

— Viết bởi phandinhminh @ 08:07

Có một người anh cùng cơ quan, hằng ngày tay bắt mặt mừng. Buổi trưa gặp ở quán cơm bình dân, mời nhau chén rượu xuông. Đến lúc về hưu anh vẫn chưa lấy được vợ. Nghỉ chờ hưu được một tháng, đột nhiên anh thấy run chân tay, đi khám, người ta bảo có một khối trong đầu, 15 ngày sau anh mất... đau quá. Nhiều vòng hoa trắng quá.

                                                                                          Phan Đình Minh

 

     Một nén trầm

                 nhớ anh Bình


     Năm mươi ba tuổi
     Hai mươi ba vòng hoa
     Hai mái đầu chít khăn tang
     Và ba bốn người bật khóc to thành tiếng.
 
     Việc nghĩa chưa kịp làm
     Ân tình chưa trả hết
     Thú vui ồn ào nơi quán nhậu còn đâu ?
 
     Rồi thanh thản mời nhau một chén
     Bắt cái cay nhân tình tan trong men rượu đắng.
     Mệt mỏi làm chi
     Ham hố làm chi
     Và đen bạc mà chi
     Cởi áo, cất giầy, nói cười cho đã.
     Một chút buồn đâu nản chí nam nhi.
     Cái được cái còn cần ai cân hộ
     Chỉ biết rằng anh đã sống giữa trời xanh.
 
     Ba bốn chiếc ôtô
     Và mấy mươi bạn bè đưa anh về tận trong quê giữa trời nắng nôi trải lửa.
 
     Ta nghẹn ngào tấm tức nhớ ngày qua.
     Trách tạo hoá vít cành chặt gốc
     Nhưng lại thương thay cho tạo hoá chẳng thể Bonsai được  nghĩa  tình.
 
     Thôi chào, hẹn nhau ở thiên hà xa tít tắp
     Vĩ đại, sang hèn cũng chẳng tránh phút vô vi./.

 

     

Truyện ngắn

— Viết bởi phandinhminh @ 16:31

Lời nhắn gửi của bác tôi

         Gia đình đằng nội chồng tôi họ hàng không nhiều, chỉ có bác tôi và bố chồng tôi. Đấy là hồi xưa, chứ giờ các anh chị tôi danh nào phận ấy, lại hóa ra nhiều người. Mỗi lần lên thăm là tôi cứ phải chuẩn bị túi lớn túi bé bánh kẹo. Con, bác tôi có tám, tức cả dâu, rể cộng lại đúng mười sau người. Còn cháu, tính thêm hai đứa chắt, con thằng Được, tất cả là hai mươi bẩy.

       Bác tôi lấy chồng xa quê. Cái làng Sánh nghèo, đất chật, đông nhân khẩu này ngày xưa, từ thời Pháp thuộc ấy, bà nội tôi gánh bố tôi, bác tôi dưới Nam Định lên đây tìm ông nội bỏ quê ra đi kiếm sống. Đến cái ngã tư đường cái quan gần làng Sánh thì bà mất hoàn toàn dấu vết của ông tôi. Không có tiền lộ phí quay về, bà tôi dựng cái lều cạnh đường ở tạm gồng thuê gánh mướn nuôi con và cố tính cô tính cóp đủ mấy suất vé tầu để hồi hương, thế nhưng vài năm qua đi bà vẫn chưa về được.

     Làng Sánh hình thù giống cái móng sắt con ngựa, kẹp giữa đường số 11 và bờ đê dòng sông Lô. Đất làng hẹp vanh vanh cằn cỗi. Bất cứ chỗ nào chỉ cần sới xuống vài nhát cuốc đã đụng đá ong. Vậy nên đường làng, tường nhà, hay bờ giếng Guộc có hơn một trăm năm  đều xây bằng gạch đá ong. Gọi là đá thôi, chứ đó là thứ đất thịt dính như keo lẫn tám phần sỏi ống. Đánh lên khỏi lò thì cứng đanh, chịu mưa, chịu nắng rất tốt.

     Bác Sẩu trai hiền lành, khoẻ mạnh. Ngày xưa bác có nghề bưng trống đem bán khắp nơi. Thời nay, đông người làm mà dân gian giờ lại ít dùng trống gỗ bưng bằng da trâu nên một năm bác tôi chỉ còn dựng được vài chiếc. Bác còn có nghề bốc thuốc chữa rắn cắn, vậy nên những năm khó khăn trước đây, đông con, nhà bác tôi vẫn được xem là gia đình khấm khá hơn cả trong làng. Việc dạy dỗ anh chị tôi, một mình bác Thức gái đảm nhiệm. Một ngày đối với bác Sẩu từ mấy chục năm nay, chỉ có bưng trống, rồi xao xắc mấy thứ lá lẻo linh tinh. Bữa ăn, bác uống rượu nhiều hơn cả ăn cơm. Tối đến, bác thường trải cái nong to ngoài thềm, rồi cởi trần ngủ trong đấy.

     Anh Sang là con cả, anh Vượng là con thứ hai, tiếp theo là anh Lộc, chị Gan, anh Đức, chị Ngọc, chị Ngà, chị Thêm. Tất cả tám người và người sau bao giờ cũng cách người trước hai năm ba tháng mới tài chứ.

     Năm 1967 anh Sang đi bộ đội. Sáu tháng huấn luyện ở Hoà Bình anh được tặng rất nhiều giấy khen, còn khi lên đường đi miền Nam chiến đấu, không hiểu sao mới vào đến Đồng Hới – Quảng Bình thì anh tôi quay vội ra với cái giấy chứng nhận sức khoẻ: bị sức ép bom, điếc hoàn toàn. Chuyện riêng nhà bác, tôi cũng chẳng thấy chồng tôi nói bao giờ, chỉ biết khi hoà bình, tức là năm 1975 thì tai anh Sang không điếc nữa, nghe rất tinh. Anh Sang lấy vợ sớm và  có con sớm. Lúc thằng Được lớn một tí, đi đâu ai cũng gọi hai bố con là  anh em. Anh tôi tính tình vui vẻ và khôn ngoan hơn người. Nghe chồng tôi kể, cả nhà, anh sợ nhất bác Thức gái, còn bố chồng tôi (anh gọi là cậu ruột) nói gì anh cũng nghe. Sau này tôi biết, sở dĩ anh rất kính trọng bố chồng tôi vì cụ uyên thâm các truyện đông tây, kim cổ. Cụ là kho từ điển sống về lý lẽ, nhân tình thế thái ở đời mà ông bà xưa viết thành sách, đúc thành ca dao tục ngữ.

     Anh Vượng thì vai u, bắp thịt cuồn cuộn. Anh rất mê môn vật và là đô chính của lò vật Mã Đoãi. Suốt năm anh bỏ công việc đồng áng, việc nhà, để theo sới, tràng màng, quên cả tết tư phải trách nhiệm mua chai rượu ngang sang Đông Kỳ biếu bố vợ gọi là nhớ công sinh thành dưỡng dục vợ mình. Những lúc mùa thi đấu thì chẳng sao, còn khi không phải mùa đấu ở huyện anh cũng chẳng về , cứ nằm queo bên Mã Đoãi uống rượu ngô. Mỗi năm anh vãng qua thăm vợ con thời gian tính gộp chưa đầy một tháng. Đến khi đàn gà của chị Mến chăm bẵm bị thịt tới con cuối cùng thì anh lại hăm hở sang lò vật. Sang năm quay về, nghiễm dưng thấy mình có thêm đứa con gái. Giờ, anh chị tôi có những bốn gái, chẳng kế hoạch gì cả. Nhà thì nghèo lắm. Xét về tài sản có trong nếp nhà hai gian trình tường đất thì anh Vượng có lẽ nghèo nhất cái làng Sánh nghèo này. Nghe chồng tôi nói: chiếc cối giã cua anh chị tôi cũng không có, phải đi giã nhờ hàng xóm.

     Anh Lộc, chăm chỉ làm ăn nhưng mắc chứng động kinh, suốt năm phải tránh nước, tránh ngủ một mình, tránh trèo cao, tránh đi xe đạp, thậm chí tránh cả vào bếp. Có lần đang thổi cơm, anh tôi lên cơn co giật lao mặt vào đống tro đầy tàn lửa. Bác Thức kéo được anh ra, thì tóc tai, lông mi, lông mày sém sạch. Khi anh đến tuổi lấy vợ. Bác tôi tự động mang cơi trầu sang nhà ông Túc, hỏi chị Hồng, vừa dở người lại vừa xấu gái cho anh. Chị Hồng được cái khoẻ mạnh, chẳng khi nào ốm đau. Việc tự quyết lấy vợ cho con giai thứ của Bác làm anh tôi lên cơn co giật nhiều hơn và làm cho mấy cô bạn xinh xẻo ở xóm giữa, xóm Cầu, khóc nước mắt chảy mòn cả khoé mắt. Chả là anh tôi tuy mắc bệnh động kinh nhưng được cái trắng trẻo, đẹp giai. Ngoài những khi trợn trừng, miệng phè bọt mép thì anh rất hấp dẫn bởi tài ăn nói và cái nết chăm chỉ. Bác Thức gái, nhất nhất ý mình không nghe mọi người can gián, kể cả sự phê phán gay gắt của bố chồng tôi truyền qua lời thuật của anh Sang được bác tôi uỷ thác về dưới Nam Định xin ý kiến. Bác Thức lúc nào cũng róng rả với anh tôi: “bệnh tật như vậy, phải lấy con Hồng, chứ lấy đứa khác chỉ vài năm sống với nhau, vài lần thấy mày ngộ bệnh chẳng chóng thì chày nó cũng khăn gói gió đưa. Phải nghĩ xa, nghĩ kỹ con ạ”. Thế là anh yên phận. Mấy năm sau ba đứa con trai béo trục, béo tròn của anh chị tôi lần lượt ra đời và kinh tế cả nhà không có nghề phụ trông cả vào hai sào lúa, được ba ông đá lỗ ăn như hùm đổ đó, ngốn hết  sạch chơn. Vụ nào anh chị tôi cũng thiếu ăn hai tháng. Thế là dù có kiêng nước anh tôi cũng phải đi cày, phải kéo vó, lội sông làm thợ xúc cát thuê. Sợ độ cao mà anh vẫn phải trèo dàn giáo để làm phụ hồ, phụ vữa trong những khi nông nhàn, tháng ba ngày tám.

     Nói về kinh tế, so sánh các gia đình thì có lẽ nhà anh Sang khơ khớ hơn các gia đình anh chị khác. Cũng bởi chị Xuyền vợ anh Sang chịu thương, chịu khó, lam làm. Bố chồng tôi quý chị Xuyền nhất. Ông hay nói: “Cái con bé này nó về, nó gánh cái nạn, cái khổ cho cả nhà bà Thức”. Ông kể, đi làm đồng về thấy nửa bông lúa rơi ở ngoài đường, chị cũng cúi xuống nhặt mang về nhà. Tất cả các anh các chị tôi đều không học hết lớp mười, hay lớp mười hai, một phần vì khó khăn, theo đuôi xóm giềng và một phần vì các anh các chị đều học kém, người chẳng vào được cấp ba, người bỏ giữa chừng. Duy chỉ có thằng Miện con anh Sang là học giỏi. Chồng tôi quý nó lắm. Lần nào về thăm bác tôi anh cũng mua quà riêng cho và động viên nó học hành. Anh nói là nếu nó vào được Đại học thì sẽ lo lắng mọi phần, để nó mở mặt, bước chân ra khỏi cái làng Sánh nghèo khó và nhiều hủ tục  này.

     Có một lần hai vợ chồng tôi về Nam Định nhân giỗ bà nội tôi. Lúc mọi việc cỗ bàn gọn ghẽ xong xuôi, bố tôi bảo hai vợ chồng tôi lên nói chuyện. Cứ tưởng việc gì hệ trọng, hay ông cụ phê bình đường ăn lẽ ở gì của hai vợ chồng tôi. Tôi và anh ấy cứ lúng ta, lúng túng. Đến khi thấy cụ hắng giọng phẩy tay một cái tôi mới thở phào.

     - Các con xem việc trên Trung Hà, bố thấy càng ngày hai bác và các anh các chị càng khó khăn thêm. Các con có cách gì tính đỡ cho hai bác. Cụ thở dài rồi hắng giọng: “cũng gần sông, cũng ở cận đường cái lớn, cách thành phố có mấy mươi cây số mà sao không vượng được”.

     - Con nghĩ, tiềm lực thì nơi nào cũng có, chỉ có điều con người ở đấy xoay sở thế nào. Cứ ỳ ra, mọi thứ theo nếp cũ thì mục thất cũng không khá được. Lúc nào cũng chỉ viển vông đâu đâu.

     Thấy chồng mình xung sái, tôi huých mạnh vào chân một cái làm anh chàng đang dài cổ diễn thuyết chợt ắng ngay. Như cái đài đang nói bỗng hết sạch pin.

     Thế rồi chẳng biết chuyện gì, “tính” gì mà tôi thấy bố chồng tôi và chồng tôi bàn soạn đến khi con gà cồ nhà ông Dưỡng hen hàng xóm gáy sáng lần thứ hai mới thôi không rì rầm nữa. Thỉnh thoảng tôi nghe bố chồng tôi nhắc đến tên thằng Miện, rồi nhắc đến cả ba ông bạn thân từ thời để chỏm của chồng tôi.

     Vào năm 1992 vợ chồng tôi đột nhiên nhận được điện trên Trung Hà: anh Sang mất. Anh lâm trọng bệnh mấy tháng nay. Mới khoẻ sơ sơ anh đã dồn sức đi đánh đá ong. Mà anh Sang tôi cũng chỉ thuần tính được hai năm nay thôi, thế mà anh lại chết. Chẳng hiểu do đâu, cứ mỗi lần đi ăn cỗ đồng hao, đồng niên trong làng anh tôi lại xà vào hội tổ tôm. Lúc đầu là chơi vui, sau đâm nghiện. Anh lao sâu vào con đường cờ bạc bao giờ chẳng hay mặc dù đêm nào bác Thức gái cũng vác chiếc đòn gính đi khắp làng dò dò, xét xét rồi lùa anh chạy tứ tát từ chiếu bạc về nhà. Chứng nào tật ấy, anh tôi không chừa được, mặc kệ chị Xuyền hai sương một nắng ngoài đồng. Và cót thóc với đủ thứ việc chi tiêu trong năm cả nhà trông vào, cứ vơi dần sau mỗi đêm anh tôi mê mải với tám đỏ, hai lèo… Chiếc xe đạp Phượng Hoàng cũ dùng chung cho gia đình lớn đáng giá hai trăm ngàn cũng bị anh đem gá bạc và gán nợ tiền rượu anh tôi uống chịu ở quán bà Huân đầu làng. Một lần giận quá. Khi điệu anh ở chiếu bạc về nhà. Bác Thức gái tôi bắt anh quỳ trước mặt.

      - Thằng kia, mày có biết Bầm thối hậu rồi không ?

Bác Thức gái tôi rên lên đau đớn.

     - Xin bầm tha tội cho con.

     Bác tôi giơ cao chiếc đòn gính phang nghiêng cho anh Sang một cái vào đầu gối, khiến anh ôm chân kêu rống, nằm còng keo giữa nền nhà. Vừa dứ dứ chiếc đòn gính, bác tôi vừa réo trong nước mắt: “Bầm tha cho con, nhưng con của con, cháu của con nó không tha cho Bầm vì Bầm không biết dạy con”.

     Trong buồng, chị Xuyền, thằng Được, vợ thằng Được, con thằng Được, thằng Miện, con Thảo khóc rống lên. Đầu gối của anh Sang sưng to như quả bưởi. Anh phải nghỉ cầy đến nửa tháng trời. Từ đận đó anh tôi bỏ rượu, bỏ cờ bạc. Nhưng sức anh tôi đã kiệt, lại thêm nỗi ân hận vì phí phạm quá nhiều thời gian trai trẻ, nhãng đi đủ thứ trách nhiệm trong nhà. Anh tôi lâm bệnh rồi phải vào nhà thương huyện Ba Vì điều trị bốn tháng trời mới đỡ. Lọc bệnh chưa dứt, mặc mọi người can ngăn, anh vẫn kéo lên mỏ đá ong đánh đá cả tháng không tin tức gì cho nhà. Lúc đi anh chỉ dặn thằng Được một câu: “ở nhà trông nom bà, không phải lo lắng gì cho bố”. Anh quyết trí làm đủ đá, tính chuyện cất nhà riêng cho vợ chồng thằng Được. Khi đống đá của anh đánh được vài vạn, xếp gọn gàng thì anh kiệt sức hoàn toàn rồi mất đột ngột.

     Anh Sang chết được ba tháng thì bác Thức gái tôi bị cảm hàn rồi cũng ngã bệnh luôn. Suốt dọc một bên người bác không cử động được. Biết tin, vợ chồng tôi tất tưởi lên thăm.

     - Cả nhà này xem ra được mỗi mình thằng Miện. Nó học giỏi, sống có tâm. Bác nhờ con lo cho nó vào đại học để sau nó nên người.

     Nhìn bác Thức gái héo hắt cười rồi nhắn gửi chồng mà tôi thấy thương bác vô cùng.

     Lúc bác sắp mất, vợ chồng tôi cũng có mặt. Hình như bà cụ cố chờ chúng tôi về rồi mới chịu đi. Phút cuối cùng bác nhìn chồng tôi và đánh mắt sang thằng Miện đang phờ phạc sau nhiều đêm thức trắng trông bà. Chồng tôi ồ ề khóc tướng nên. Tôi biết, anh  đang tưởng tượng lại cảnh bác bẻ hai phần nắm cơm nhỏ chia cho bố chồng tôi trong nhà tế bần thời Tây dưới Sơn Tây. Nhìn anh ấy khóc thương bác ruột mà lần đầu tiên trong đời tôi mới cảm nhận được thế nào là nước mắt của đàn ông.

     Thằng Miện năm đó không làm hồ sơ thi đại học. Biết tin, chồng tôi phóng xe lên. Thằng Miện khoanh tay:

     - Thưa chú, xin chú cho cháu năm sau thi. Năm nay vừa có tang bố, tang bà, nhà lại không có tiền làm hồ sơ. Xin chú !.

     Chỉ hơn một trăm ngàn làm hồ sơ đi thi cũng không có. Mà hoàn cảnh thế này, dầu nó thi đỗ đại học thì cũng lấy đâu ra tiền để chu tất mấy năm đèn sách. Nói phóng là ở thành phố chú lo, nhưng phải tính cho cạn… Nghĩ đi, nghĩ lại, chồng tôi đành lên xe ra về, trong lòng buồn rưng rức. Bốn tháng sau chồng tôi điện lên xin  chị Xuyền, bác Sẩu cho thằng Miện đi chơi. Cháu mình vừa xuống đến nơi, chồng tôi đã đưa tót nó sang nhà anh Hoạch chọi gà. Về nhà, tôi hỏi thế nào chồng tôi cũng không nói. Anh chỉ ậm ừ là để nó ở đấy chơi, phụ việc vài bữa cho bác Hoạch. Phụ việc cái gì, chơi cái gì. Cái bác Hoạch suốt ngày chỉ có mỗi chuyện chăm sóc mấy con gà nòi, rồi đem thi đấu hết nơi này, nơi khác. Bạn thân của chồng nhưng thực tình tôi không có cảm tình với bác Hoạch này. Người gì mà suốt năm, suốt tháng chỉ có máu ăn thua, rồi mua đi bán lại. Đành rằng nhờ dính vào mấy con gà mà nhà bác ấy khá nên. Giờ lại đem giao thằng cháu quý cho cái ông chỉ mượn may rủi để mưu sinh. ấm ức trong lòng nhưng chưa biết tính cách nào, bởi từ trước đến giờ tôi hiểu chồng tôi, đã quyết việc gì thì nhất nhất anh ấy không thay đổi.

     Buổi tối, hôm thằng Miện ở nhà bác Hoạch gà chọi về nhà, hai chú cháu tâm đắc nói chuyện đến khuya. Mà toàn một chuyện về gà chọi, nào là : gà ô mã mái, vẩy thiểm độc độ, giao đấu chỉ có chiến thắng đến cùng.  Rồi việc chọn gà theo sách “Kinh kê” bác Hoạch lùng mua ở tận bên Tầu. Quyển sách thằng Miện tả: sờn rách, bìa đen nhàu nhĩ, không biết xuất xứ có từ đời nào. ở đấy dạy thứ tự từ việc chọn gà, vần gà, vỗ gà đến đủ các miếng đánh dọc, đòn đấm, đá mé, đánh vỉa hai mang. Con gà đoản cổ, đốt sương liền, mỏ mập, vẩy trước của chân cứng như đá, bóng và mỏng xếp như da rắn, phần ngoài lấn phần trong thì chuyên về hầu mé hai bên. Vẩy phần ngoài của chân, hai hàng thẳng tắp thì chuyên đá dọc. Thân, hình bắp chuối hột, hai mắt tinh anh, cánh nhỏ khép sát, xương ức, xương vòm cứng như lan thép, dáng đi oai vệ nhón bằng ba ngón xoè rộng thì chính đó là con gà vô địch. Nghĩa là đủ thứ chuyện về gà chọi. Thằng Miện còn úp mở, ngoài việc lựa gà giao đấu, bác Hoạch còn gây những con gà thượng thặng giá bán bằng tiền thu nhập quy đổi cả một cánh đồng lúa ở trên quê nó.

     Mới ở bên bác Hoạch có hơn một tháng trời mà thằng Miện như tạc vào lòng những gì gọi là thú chơi kiếm tiền cao sang (như lời bác Hoạch nói). Tôi thì tôi ghét nhất những câu bác Hoạch dặn thằng bé lúc nó khoanh tay cúi chào trước cửa nhà. Nào “…tiền, là phát kiến lớn nhất của loài người. Nhưng vì nó, loài người khốn đốn nhiều phen. Vậy nên trước tiền, phải thắng, phải biết xem thường nó”, và còn cái câu : y..y.. pháp bất y nhân gì đó, làm phương châm để đối xử, quan hệ ngoài xã hội. Nghe sởn cả gai ốc và phát ghét. Ai lại đi dạy thằng bé mới mười bẩy tuổi đầu những điều như thế.

     Được năm ngày kể từ khi thằng Miện ở nhà bác Hoạch gà chọi về thì có xe của chú Cường giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn làm đại lý xi măng Chinh Phong lên Bắc Giang bỏ hàng, ghé vào đón. Đến lúc này thì tôi ang áng: chồng tôi muốn cho thằng cháu thông minh sáng ý đến chơi tiếp xúc với các ông bạn thân tài giỏi của anh là có ý. Dầu không rành lắm nhưng tôi vẫn phải cung cúc chuẩn bị mọi thứ để cháu lên đường.

     Thằng Miện đến công ty chú Cường được vài hôm. Suốt đó, đi ký kết hợp đồng ở đâu, tiếp xúc với khách hàng nào. Khắp mặt các nơi ăn uống sang trọng chú đều càm nó đi cùng. Một tháng ở chơi. Thằng Miện cứ ra vào suốt ngày như “Công an dạo cảnh” khắp cùng cái công ty đang trên đường lãi giả, làm thật của chú Cường. Tiền đóng thuế kinh doanh, tiền thuê xe vận chuyển, tiền trả lương cho hơn mười con người từ thủ quỹ, đến thủ kho, tiếp thị, bỏ mối, đến hai anh bảo vệ rồi tiền trả lãi ngân hàng một tháng tính ra không nhỏ. Sơ sơ chi vào mấy việc đó, chú Cường phải tiêu hết vài chục triệu một tháng. Cái mấu chốt làm ăn ở đây là gì ?. Đa số những người làm công, và cả thằng Miện, không lý giải được. Mọi người ai cũng nghĩ trong bụng mà chẳng dám nói ra miệng: cứ đà này không sớm thì muộn, công ty sẽ sập tiệm, bởi thu lãi kinh doanh hàng tháng tính kỹ cũng chỉ vừa trả đủ số chi phí trên. Đến cái hôm thằng Miện sắp về nhà thì chú Cường mới tiết lộ: năm năm đầu công ty chú phấn đấu chỉ cần đạt được các tiêu chí: Giành khách hàng, chuẩn bị đủ số phương tiện để vươn xa. Bắt đầu, thực sự làm ăn vào năm thứ sáu, và sẽ làm đại lý thực thụ của nhiều hãng xi măng trong nước chứ không phải của nước ngoài. Tức là, bây giờ mới ở năm thứ tư với số lượng xi măng bán ra, đại lý của chú Cường đã vươn ra khắp các tỉnh trong miền Bắc. Số ôtô mà công ty mẹ thưởng theo doanh số bán hàng hàng năm là ba chiếc. Chỉ với ba chiếc ôtô này đã là một món tài sản không nhỏ. Đại để ý tứ của chú Cường mà thằng bé Miện giải mã được là: phải tính đến nhiều năm, dài hơi, chứ không làm điều gì ăn xổi trước mắt. Khi thực sự khoẻ mới nghĩ đến chuyện lớn.

     Ông bạn thân thứ ba mà thằng Miện phải đến chơi là bác Ánh chủ ba đầm nuôi cá ở Quán Gánh, cung cấp cá cho bốn năm chợ cá lớn của Hà Nội và cho không dưới mười mấy nhà hàng ăn uống với đủ loại đặc sản nước ngọt. Sau hơn một tháng ở chơi với bác Ánh về nhà. Nhìn thằng bé đen nhẻm đen nhèm mà tôi phát hoảng. Chồng tôi thì chỉ cười khì khì khi thấy vẻ mặt xót cháu của tôi. Ngày hôm sau, thằng Miện xin phép vợ chồng tôi ngược chuyến ôtô về Sánh sớm.

     Ngày giỗ đầu bác Thức gái, Nhà tôi lại đi công tác xa. Anh vào tận Kiên Giang theo đoàn công tác của Viện, nghiên cứu trồng cây ngập nước nhằm phục vụ dự án “Môi sinh vùng lũ”, mà nhóm nghiên cứu của Ban anh ấy theo đuổi hai năm nay. Đã ba tháng rồi, anh ấy chẳng thư từ và kiệm cả một lời nhắn về nhà. Một nách hai đứa con, rồi công việc cơ quan khiến tôi cả ngày cứ bấn như đầu cá úi. Gần đến ngày giỗ bác Thức, tôi mới hoảng. Lo nhất là việc thằng Miện ôn thi năm nay thế nào ? tiền nong làm hồ sơ có không, hay lại như năm ngoái. Bụng tôi càng rối hơn khi bước chân từ trên xe ôtô xuống cái ngã ba lầm bụi đỏ cách làng Sánh một cánh đồng. Gió mát từ phía bờ đê rười rượi tạo thành những gợn sóng lúa, trên cánh đồng lúa xanh rì rì. Con đường chính vào làng hình như mới được tôn cao sau bao năm nay cứ thấp tìn tịt.

     Cảnh sắc nhà bác tôi vẫn chẳng mấy thay đồi. Trên cái phản giữa nhà, bác Sẩu đang cởi trần ngồi im phắc. Mặt bác nằng nặng, người thì đầy vết bầm thâm sịt do cạo gió.

     - Con đã lên đấy hả ? Mà ngày kia mới là giỗ chính cơ mà ?

     Thấy tôi bước vào trong cổng, bác Sẩu cố đứng dậy đi ra đón.

     - Con về trước… cũng để báo cáo ông và các bác, Nhà con không có nhà. Ông bị sốt ? Sao vắng vẻ thế ông.

     Khi tôi đã ngồi yên vị trên cái phản kê ở gian giữa, bác Sẩu mới hắng giọng:

     - Ừ. Ông bị dính gió, nằm nửa tháng nay. Chắc cùng vì ngủ ngoài hiên nhiều, giờ sức yếu nó mới quật. Có lẽ người ta cũng đừng nên giữ một thói quen gì lâu quá. May, có cái răng hàm con cá trắm thằng Miện mang về đánh cảm nên mười phần đỡ được bảy rồi - Bác Sẩu dừng lại, nghỉ lấy hơi rồi nói tiếp: Cả nhà tất tật chúng nó đang ở ngoài đầm. Hôm nay làm góc ao, vét lớp vôi và bùn nhão để tháo nước, “bỏ” cá đúng vụ cuối hè.

     Thấy ánh mắt lo lắng của tôi, bác Sẩu nói nhỏ nhưng giọng rất là cao hứng.

     - Thế con chưa biết à. Giờ thằng Miện làm “thủ lĩnh ” các chú nó, cả thằng Được nữa. Nó nhận khoán chín héc-ta ao của hợp tác xã, thời gian những mười năm.

      Bác Sẩu châm một tuần thuốc lào rồi khẽ khàng.

      - Bác yếu rồi, chuyện của chú cháu chúng nó, bác cũng chẳng tham gia. Chỉ biết, cứ mô hình “cá” như bên Đông Kỳ thì một năm  có thể thu hồi vốn. Có lẽ làng Sánh chỉ làm ao mới vực kinh tế lên được.

     Chà, cái thằng Miện này. Làm cách gì mà nó kéo được ông “đô vật” bỏ sới về bốc bùn thả cá. Mà tiền ở đâu để các bác ấy làm ao. Nghĩ vậy tôi hỏi bác Sẩu. Bác Sẩu trả lời rồi nhìn tôi ái ngại.

     - Bác tưởng hơn mười triệu bạc vợ chồng cháu cho thằng Miện vay. Hoá không phải à?

     Thì ra năm ngoái, lúc ngược về quê, thằng Miện cầm trong tay một món tiền lớn. Chắc chắn là bác Hoạch, chú Cường hay bác ánh cho nó vay. Không hiểu sao mấy ông mọt của Anh ấy lại xuất tiền cho thằng bé?

     Tôi châm cây hương cắm lên bàn thờ bác Thức rồi xin phép bác Sẩu ra ngoài đồng. Đến nơi, tôi ngợp bởi cả khu vực đầm hoang nước mênh mông, do đê vỡ tạo nên, giờ đã quy hoạch vuông vức. Bờ ao  xây kiên cố bằng gạch đá ong (tôi biết đấy là số đá anh Sang chết, để lại). Thằng Miện đang chỉ đạo anh Vượng, anh Lộc, mấy bà thím, cùng thằng Được và mấy chục người xoay trần ra vét ao, bùn đất lấm lem. Chắc chắn những điều này nó học được từ bác ánh cá đầm. Trông thấy tôi, thằng Miện chạy lại cười ngượng nghịu.

     - Thím mới lên. Việc giỗ bà, ông và mẹ con đã chuẩn bị chu đáo. Con cũng biết Chú đang ở trong miền Nam.

     Tôi nói chỉ để thằng Miện vừa nghe đủ:

     - Thế cháu không định vào đại học hay sao mà quay ra làm ao thế này.

     Mặt thằng Miện đần thộn, rồi đột nhiên nó quả quyết:

     - Việc vào đại học cháu sẽ…và…và cũng có thể. Chỉ có điều thư thư thím ạ.  Tối về nhà, cháu sẽ thưa chuyện với thím.

     Tôi cau mày, nói nhỏ:

     - Cháu làm vậy, là chú thím đã không tròn lời nhắn nhủ của bà. Biết không ?

     Sắc mặt thằng Miện dại đi.

     Ngày giỗ. Trên khung ảnh thờ, đôi mắt bác Thức gái chăm chăm nhìn xuống khi tôi thay chồng dâng lễ thắp hương khấn vái. Hình ảnh bác Thức trước lúc lâm chung cứ hiện rõ mồn một làm cho đầu óc tôi rối bời. Giá lúc này có anh ấy. Tôi chỉ biết giơ tay khấn dài rồi lầm rầm:… xin bà thứ lỗi. Mé bên kia thằng Miện cũng đang chắp tay khấn bà nội. Mắt nó nhìn sang tôi trìu mến. Trong buồng, tiếng chạm bát rượu của anh Vượng với vài ông bạn đồng hao nghe mấy tiếng cách ngon lành.

                                                                                                                PĐM

 


CHUC MỪNG

— Viết bởi phandinhminh @ 07:55

 Bài viết, không ngờ xong sớm. Định  vài ngày mới đưa, hôm nay bước chân ra cửa thấy nắng he he, trời se... trong lòng thư thái. (Thân mến tặng TC)

   Hẹn với Thanh Chung

     

       Tôi nhắn với Thanh Chung: “Sinh nhật mỗi nàng xinh xắn Thiền viện, anh sẽ viết tặng một bời”. Quân tử nhất ngôn là... hở. Thà rằng đến dịp, xoa tay thật ấm, trịnh trọng bước tới, cầm bàn tay nàng lâu lâu, tua vài lời kiến cánh, có lẽ ngon nghẻ, thuận và thiết thực. Chà, “Vài dòng, thay quà”, này, xem chừng hào nhoáng câu hứa, lời hứa quá. Ngày tháng trải, lúc rảnh rang, tôi giơ gang, cân món quà, thấy rất là nằng nặng, nên giờ, tính như việc đặt cỗ đám cưới các nhà hàng, khách sạn ở Hà nội, cứ phải trước năm, sáu tháng. Dủi rải viết xong cái “cảm xúc, cảm nhận” có lẽ cả tuần. Bấm ngón. Hôm nay 07 tháng 4, sẽ phấn đấu đến cuối tháng sẽ kết, đưa lên blogs. Quyết chiếm giải “Món quà sinh nhật sớm” (trước 5 tháng) trong các gói gởi về mừng sự chào đời của cô gái giỏi giang quý hóa vô cùng được “mệnh danh” đầu gúi, xứ sông Lấp, cầu Rào... Thiền viện.

     Một La mã – Về người.

     “Anh PĐM à?”- Tôi vừa hạ chân chống chiếc xe máy zim Tầu, xuống, Thanh Chung nhìn thấy. Tôi chìa tay, như là muốn bắt tay thủ trưởng (cái thói quen, tôi từng phùng má, trợn mắt phê đâu đó “động tác kỳ quặc” thế, thế mà). Thay vì đợi cái phản xạ tự nhiên, TC không hề đưa tay ra mà ngó tôi rất chi là kỹ, kỹ từ đầu đến chân bằng cặp kính: Viễn. “Hỳ”. Giải nghĩa cái nhìn dài, và xiên như phố Bông Thợ Nhuộm là thế này: “Hơ hơ, tưởng bác Minh bộ dạng ông giáo phố huyện, cắm thùng, giầy đen mõm tròn... hóa vẻ, như lão buôn xe - chợ xe máy Phùng Hưng”. “Hì” nữa. Điên quá. Cũng nói thêm, lúc ấy tôi vận quần bò, áo kẻ buông xòng, chân đi cộp thể thao hãng Nike – sản xuất ở nước thứ 3. Hơi bị ngầu và sờ - bo - rờ - tờ. Cuộc hàn huyên gồm: phở, bánh Xu xê, và một cuốc xe đưa TC ra bến Lương Yên về Hải Phòng. Hôm sau, NLC, HLB, HV tới tấp nhắn tin “Anh thấy TC thế nào?”. “TC đẹp chứ!”. “TC đã hè!”. “Đầu gúi HP ngon nhẩy!”...  và tôi đều trả lời “Hỏi như dở. Bạn bè gặp, ai để ý, ngắm nghía, xoi. Thế nào, đã là thế nào”. Và tôi đồng thanh nghe được tiếng “Ừ nhỉ” của 3 cô Thiền viện.

     Có câu chuyện này.

     Quê tôi cắm cạnh sông, nhánh gì đó của sông Hồng quành qua. Mà mọm nó không tên. Đoạn vòng làng hõm bụng, thành eo, nước quẩn, lại lặng, lại quẩn suốt ngày. Ở đây có vài bè rau muống xanh um, lềnh đềnh. Ngọn rau to, bò nguyềnh. Bọn trẻ con chúng tôi hay bơi ra hái hàng ôm về luộc. Rau muống sông ăn ngọt và bở, nước rau đậm chứ không he nhạt như rau ruộng. Chỗ đê khúc bao quành quành, có rặng tre rợp buổi trưa, có gió rời rợi buổi chiều. Chiều chiều hay gặp đôi trai gái đẹp ra đây ngắm mây quén mặt trời đỏ lịm thả lệch xuống đồng xa. “Em như ngọn muống bè”- Có lần tôi nghe trộm chàng trai nói với người yêu thế. Ngày đó, bé ti, tôi không giải nghĩa được câu ví ấy mà chỉ thấy mặt cô gái đỏ nhìm nhịm. Chuyện qua từ thơ ấu, tôi lúc quên, lúc nhớ, nhưng cái vị ngọt muống sông thì vẫn mồn một. Quả thế, ai từng sống vùng quê đồng chiêm, có mùa nước tràn đê và tận mắt nhìn những bè muống... trôi, trôi. Rau muống ngọn dài, nổi trên mặt nước quồng sậm. Cấu về luộc, rồi tương, rồi cá rô đồng rán. Ôi chao, ngon!

     Năm ngoái, gặp TC. Không hiểu sao tôi đột nhiên nhớ đến câu chuyện đôi trai gái nọ!

     Thôi, không liên khúc về cái sự đẹp..., quá, lại đâm tràn ngôn. Đại để cảm giác lần đầu gặp TC rất chi là rộn ràng, ấm áp. Khi nói chuyện càng thấy TC gần gụi. Cũng dễ hiểu bởi tại làm sao chị được nhiều người quý, nhiều người có tiếng trong làng văn, danh như cồn, mến. TC hiểu biết rộng, rộng trong kiến thức bởi những năm tháng bôn ba lặm lội học hành, nuôi con vất vả, mà tự... một mình. TC làm ở cơ quan này, nhoánh một cái, nhảy sang cơ quan khác. Mà toàn công việc ngược nhau, từa tựa như đang ở Viện đo lường Bộ khoa học công nghệ, lại vượt  sang bên Bảo tồn nghệ thuật hát chầu văn. Tôi nghe rất kỹ TC kể nhưng giờ chịu không lường chính xác điều èm bô lô ba la trên ôtô, hay lúc ăn bánh Xu xê trong cái quán đẹp nhìn ra hồ Ngọc Khánh, đường Nguyễn Chí Thanh – Hà Nội. Hừ, đại để, giờ tôi cũng chẳng biết đích thực TC đã trải công việc gì. TC rất giỏi ngoại ngữ, nói tiếng Anh, tiếng Pháp thạo tựa ta tợp rượu quê ngon, ực. TC siêu nghiệp vụ kế toán. Khá về sử dụng máy vi tính, làm tin học; Hình như đồ họa TC cũng khéo... đại loại, kể về các chuyên môn của TC phải “rùng”  nhiều trạng từ “rất”. Nếu TC biết thêm nghề mộc, biết lợp nhà, vá săm xe nữa thì... toàn vẹn lắm, Chung ơi. Hu hu!

     Vừa rồi có sự việc.

     “Sau khi nhận được món tiền nhuận bút ngoài dự kiến của báo Tuổi Trẻ Cười, mình gọi điện về cho bà chị ruột ở TP Hồ Chí Minh đặt dệt áo ấm cho các em học sinh ở trường tiểu học A Vao (xã A Vao, huyện Đakrông, Quảng Trị - Hiệu trưởng ông Vinh: 0977041835).

     Chẳng gì đây cũng là “hợp đồng” làm ăn mở hàng cho doanh nghiệp tư nhân của bà chị nên mình “nổ” hơi to: “Chị cứ dệt cho em 100 áo len cho trẻ em từ 8-10 tuổi. Giá cả không quan trọng!”. Chị mình thống nhất quan điểm, đã đem tặng từ thiện thì phải đảm bảo chất lượng và sẽ chỉ tính đúng giá nhân công và nguyên liệu. Tính đến hôm nay thì 100 cái áo đã dệt xong. Sang đầu tuần sau chị mình sẽ liên hệ với thầy hiệu trưởng để gửi áo đi. (Vẫn còn kịp rét Nàng Bân!)

     Giá thành mỗi chiếc áo là 60.000. Tiền nhuận bút của mình sau khi trừ thuế còn chưa đầy hai triệu. Bóc ngắn mà cắn lại dài quá. Nhưng chị gái mình và một người bạn cũ đã đồng ý chìa tay cho mình “cắn”, he he…”

     Đó là câu chuyện bài viết “Con nhớ tết ở Việt Nam quá” của Thanh Chung gửi đăng báo Tuổi trẻ Cười, được nhuận bút… chuyện ra sao, phần chữ in nghiêng tôi copy nguyên văn cái entry trong blogs guihuongchogio.vnweblogs.com, nói.

     Và “Tuần này mình sẽ vô cùng bận rộn. Dự án “Giày cho trẻ em” đã nhận được nhiều hồi âm tích cực từ bạn bè. Mình còn xin được 8 chiếc máy tính đã qua sử dụng (so với chiếc máy tính bạn mình đang sử dụng ở Cuba thì những “em” này còn “nuột nà” hơn gấp nhiều lần). Mình muốn gửi về cho một ngôi trường nào đó ở miền núi, chỉ với hy vọng “xóa nạn mù… bàn phím” cho các cháu học sinh.”- entry Về nhà

     Lại câu chuyện nữa...

     Không cần thêm lời bình về tấm lòng, về con người TC gì cả. Kẹo kọ kiếm tiền nuôi hai con nhớn nhao bên xứ người, TC vẫn không quên đập ống về thăm người thân, bạn bè đều đặn. Hè năm ngoái, gần hai tháng trời TC ở chăm sóc bố chồng ốm nặng. Nghe chị kể cảm động lắm. Giữa cái nóng 40 độ C, mà mất điện, mà một tay quạt, một tay đút cơm cho bố... mồ hôi tua nhánh mặt, thật chẳng khác gì hình ảnh tôi gặp Hoa Lục Bình cách đây một tháng khi cô chăm mẹ bệnh nặng nằm BV Chợ Rẫy và Cúc – Hó nữa, bỏ làm lặn lội mấy trăm cây số, cơm nước, tắm rửa, chăm sóc vết thương mẹ già hơn chín mươi tuổi bị K… trước đây, khi đọc văn Thiền viện, quen Thiền viện, tôi cứ nghĩ các nàng này gia đình mà có chuyện chắc đứng... đọc thơ. Dịu dàng, đằm thắm, chăm chỉ, hi sinh hết thảy vì người thân, trước tiên các chị là thế, và chỉ thế các chị mới gầy được dáng hình nhân ái sau từng con chữ, tác phẩm mình.

     Xin phép mọi người, phần “Một La mã” dừng tạm ở đây.

     Hai La mã – về viết

     Cái nổi trội trong các bài viết, truyện ngắn, hay khả năng “truyền tải thông tin” của TC là tính HOẠT. TC rất dễ dàng viết chính xác, ngắn gọn và dí dỏm những gì cần truyền tới độc giả. Hình như đây là việc quen thực hiện của những ai từng làm trong cơ quan người nước ngoài. Cách hành văn văn bản, cách nói, thể hiện ý tưởng, nội hàm truyền đạt trong công việc thường rất đúng, logic. Tất cả các thủ pháp gọi là dựng truyện, tả sự việc như đồng hiện, phép so sánh; câu chuyện này kể về ai? nhân vật định nói muốn gì? những chướng ngại (nội tâm/ ngoại cảnh) ngăn cản gì trong diễn tiến vấn đề? làm cách nào để vượt qua trở ngại về ngôn từ, ngữ pháp? nhân chứng đối lập để tạo tính phản biện trong câu chuyện! Điều gì khiến độc giả cảm xúc, quan tâm để tạo hiệu quả? cái gì mới mẻ/bất ngờ/ khác biệt trong câu chuyện kia? hướng giải quyết được thoả mãn có nhất thiết phải làm cái kết hậu? chủ đề, ý tưởng chính câu chuyện đã nổi bật chưa?.v.v... Tất cả mọi sự, gọi nôm na là kỹ năng văn xuôi, TC hầu như lắm chắc, chị viết tự nhiên và khéo, và hình như những khúc mắc cố hữu của người viết là việc “tiết chế”, phân phối dữ liệu sao cho hiệu quả, ở TC không là vấn đề khó khăn; TC rất hoạt cái gọi là tạo phép biện chứng trong phản biện. Đọc những dòng ở các bài, các entry: Đôi găng tay, Bí quyết giữ hạnh phúc, Động viên anh Tô, Bằng tại chức, Chết đẹp, Sướng - khổ, Bảo kiếm… ngắn hay dài, vấn đề cá nhân, ngẫm ngợi hay những chuyện đang bàn xôm, nghị bàn ở quốc hội, đều sâu, và gợi, gây nhiều chú ý, quan tâm của mọi người. Đối với những tay viết chuyên luận khá, thường dõi các chủ đề TC theo chắc cũng phải ngại. Tôi tỉ mẩn tổng kết trong cái guihuongchogio.vnweblogs.com kể từ bài thơ: Lời con đăng trên blog lúc 21h44 ngày 18 tháng 12 năm 2007 đến bài mới nhất là Về nhà viết 18h57 ngày 05 tháng 4 năm 2011, tất cả TC đã có 510 bài các loại. Nếu tập hợp, cứ khoảng 25 bài in một quyển (tôi xin cam đoan, entry nào cũng vào tập được) thì TC có thể ra 25 quyển. Con số không hề nhỏ, hè. Quan trọng, thời gian viết chỉ hơn 3 năm. Nghĩa là, trung bình 2 ngày, đều như vắt chanh, TC có một entry chất lượng.

     Đầu năm 2010 Thiền viện ra tập truyện Tin nhắn một chiều. Cuốn Tin nhắn in chung này đã gây sự chú ý trong đông đảo bạn đọc. Mỗi người mỗi vẻ, bốn bông hoa đua khoe sắc và hương. Bình về văn, thơ, có lúc, có loại người nọ cao thấp, sắc diện, cá tính hơn người kia, nhưng xét về dáng về vẻ thì ai cũng mười phân vẹn mười. Tin nhắn một chiều là dấu ấn không thể quên của tình bạn viết, sự chia sẻ, gắn bó, đồng thanh, đồng tấu Tứ nữ cô nương. “Nhờ phép mầu, một buổi tôi nhận thùng sách, gồm mấy chục quyển… và tôi nghĩ, trưa nay sẽ đọc một mạch”. Không phải trước đây tôi đọc chậm bởi kén văn, mà do lười. Ai tặng sách, đầu tiên nghĩ đó là món quà, sau là thứ thưởng thức. Tôi cứ khuân trên giá xuống, để lần lượt đầu giường, thứ tự - những sách “đồn”, sách bạn quý, sách vì… nể mà đọc. Hàng chục cuốn. Trước khi ngủ tôi quờ tay, vớ quyển nào, đọc quyển đó nên có cuốn đọc cả tháng mới xong. Thế mà bỏ trưa..., vừa đọc, vừa ngắm 4 nàng.

------------------

     Hải Phòng, thành phố đỏ thắm phượng vĩ. Có thế đất sông và biển và núi. Như Việt Nam thu nhỏ. Ở đấy, nhờ địa lý giao thương, mặc nhiên sản sinh ra nhiều nam thanh nữ tú. Ở quê thì làm sáng rỡ quê, mang chuông đi đâu thì xứng danh người đất cảng. Hải Phòng thường là bến đỗ, nỗi niềm, chốn về của nhiều văn nghệ sỹ. Tôi không nhiều bạn quý người Hải Phòng, đếm trên đầu ngón tay chỉ hai, giờ thêm TC.

     Viết về Thanh Chung chắc còn dở dang, không hết, thích dừng ở đâu thì dừng. Thôi, tạm tới đây, gọi là có món quà sinh nhật.

     Dậy, tôi thong thả pha một ly cà-phê, tự thưởng cho mình, rồi thảnh thang tựa người lên ghế, bật đĩa CD...

                                                                                                    Hà Nội, 7/4/2011


KINH QUÁ

— Viết bởi phandinhminh @ 21:40

Nghe câu chuyện mà phát kinh.

Có lẽ chuyện chỉ có thể xẩy ra ở ... nước ta.

(xin copy toàn bộ bài này bên blogs bác VCH về)

 

THÔNG TIN MỚI NHẤT VỀ VIỆC TÁC GIẢ LÊ THUỶ ĐẠO VĂN

          Hôm qua, ông Nguyễn Liên, nguyên cán bộ hội VHNT Đăk Nông điện cho cô Thuỷ, cô này vẫn nói: Em rất mệt mỏi. Đấy là truyện ngắn của em viết, ai nói gì kệ họ, em không biết?

          Một cán bộ có trách nhiệm của Ban tuyên giáo tỉnh uỷ ĐN nói: Mới chỉ là độc giả cung cấp thông tin (anh Thắng gửi văn bản cho ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ ĐN), nếu tác giả có đơn kiện chúng tôi sẽ xử lý...

          Chúng tôi buộc lòng công bố tiếp các thông tin sau:

-----------

 

Nguồn từ độc giả Lê Thắng cung cấp:

 

1, Truyện ngắn: Vết chân ngựa trên đường mòn của Đỗ Bích Thuý đăng trên Văn tuyển thành  Vết chân trên đường mòn của Lê Thuỷ (đăng Tạp chí Nâm Nung 10/ 2010)

2, Miền đất hoa vàng của Dương Bình Nguyên thành Miền huyền thoại của Lê Thuỷ đăng Nâm Nung tháng 10/ 2008 và gửi xét quỹ hỗ trợ sáng tạo 2008.

3, Trong tôi có một vị tướng của Hoài Hương (t/c VNQD 6/2006) Thành Một lần và mãi mãi của Lê Thuỷ (in Nâm Nung 4/ 2010)

4, Bóng Kơ nia đổ dài của Dương Bình Nguyên thành Bóng Kơ nia đổ dài của Lê Thuỷ (in Nâm Nung 8/ 2008)

 

Nguồn từ Hội VHNT:

 

5, Tiếng gọi lưng chừng dốc của Phạm Duy Nghĩa thành Tôi gọi tôi lưng chừng dốc của Lê Thuỷ in Tạp chí Nâm Nung và hỗ trợ sáng tạo

6, Mùa hoa Pơ lang cuối cùng của Hoàng Thanh Hương trong tập Lạc giữa lòng Mường, thành Mùa hoa pơ lang rực đỏ của Lê Thuỷ (trong tập xét hỗ trợ sáng tạo 2010)

7, Người đàn bà đập áo trên sông Ba của Dương Bình Nguyên (CAND) thành Những người đàn bà đập áo trên sông Se-rê-pok của Lê Thuỷ (hỗ trợ sáng tạo 2008)

8, Ở nơi rừng thẳm của Đỗ Tiến Thuỵ lấy từng đoạn lắp ghép thành Dưới bóng cây Kơ nia của Lê Thuỷ

-------------

Lời bình của chúng tôi: Nếu tác giả mà lên tiếng thì họ sẽ gửi hẳn đơn ra toà, và lúc ấy chị Thuỷ sẽ phải chứng minh là các tác giả kia "ăn cắp" của chị. Việc này rất đơn giản nếu chị có đầy đủ bản thảo gốc chứng minh chị đã viết trước tất cả các tác giả đã kể tên trên kia. Các anh chị nhà văn Đỗ Tiến Thuỵ, Đỗ Bích Thuý, Dương Bình Nguyên, Phạm Duy Nghĩa, Hoàng Thanh Hương, Hoài Hương... (còn chưa phát hiện ra tiếp) chuẩn bị ra toà nhé.

Bạn đọc tên Thắng thông báo cho ban tuyên giáo tỉnh uỷ biết là để xử lý cán bộ. Lẽ ra họ báo cho ông chủ tịch Hội kiêm Tổng biên tập Tạp chí Nâm Nung của Đăk Nông, nhưng vì lý do tế nhị nào đó họ đã báo thẳng lên ban tuyên giáo. Đúng ra ban tuyên giáo phải thẩm tra ngay và ngưng chức, ngưng công việc của chị này vì đã làm ô danh cơ quan và ô danh tỉnh Đăk Nông.

Dưới đây là vài nét trích ngang về chị Thuỷ mà một cán bộ ở Đăk Nông cung cấp:

 

Võ Thị Lệ Thuỷ

Sinh 1978

Quê Quảng Nam, cùng gia đình lên sinh sống tại huyện Ea H’leo, Dak Lak.

Học đại học ngữ văn Đà Lạt

Từng sinh sống ở TP.HCM làm CTV cho mấy tờ báo nhưng không vào chính thức cơ quan nào cả. Năm 2004 thành lập tỉnh Dak Nông đã xin được về Ban Dân vận Tỉnh uỷ. Khi Hội VHNT Dak Nông thành lập mở cuộc vận động sáng tác để phát triển hội viên, Thuỷ làm đơn và được kết nạp làm hội viên (chi hội văn học). Năm 2008, ông Vĩnh làm chủ tịch Hội đã xin Thuỷ về làm Tạp chí và phong Trưởng ban biên tập. Từ đó xuất hiện nhiều truyện ngắn hay đăng liên tục làm giới văn nghệ Dak Nông xôn xao tài năng.

Cho đến ngày độc giả phát hiện ra sự kiện trên. 

 

 


GIÓ VẪN ẤM TỪ ĐẤT QUẢNG BÌNH

— Viết bởi phandinhminh @ 10:22

(Bài viết đăng trên số báo Công an nhân dân Chủ nhật ngày 03/4/2011)

Gió vẫn ấm từ đất Quảng Bình

                                                                           Phan Đình Minh

alt

     Tôi biết Đinh Giang Thủy khi đọc truyện ngắn Tự thú, lúc Thủy tham gia cuộc thi truyện ngắn Cây bút vàng lần 1 (1996 - 1998) do Bộ Công an phối hợp với Hội nhà văn tổ chức. Sau đó, vào tháng 10 năm 1999, tôi hân hạnh gặp anh và hai chúng tôi có hơn một tháng trời cùng dự trại sáng tác văn học ở Nha Trang. Một tháng trời xì xụp rượu, trà, biển, và gió, thức đêm và viết.

     Đã tham gia nhiều trại sáng tác văn học, sao cái trại viết Nha Trang năm ấy hằn trong tôi bao dấu ấn khó quên thế. Ở đấy, tôi ở, gặp rất nhiều nhà văn một thời tôi yêu quý, ngưỡng mộ qua tác phẩm. Có bác Nguyễn Quang Hà – ngày mà đại tràng vẫn ngon nghẻ, chưa bị cắt... đoạn nào; bác Cao Tiến Lê - người chưa lòng khòng như bây giờ, chiều chiều bác còn ra biển bơi xa khơi hàng cây số; Cả nhà thơ Phan Quế hằng ngày cặm cụi sửa từng “chữ văn” cho tôi; bác Triệu Huấn với tiểu thuyết Sao Đen nổi tiếng; nhà văn Cao Duy Thảo bấy giờ đã là chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa, oai ghê lắm; bác Ngôn Vĩnh với tiểu thuyết Cổng Trời, Phun rô – “Tượng đài văn học Công an”; Nhà văn Hồng Nhu với truyện ngắn Vịt trời lông tía bay về, tôi đọc đến mươi lần mà cứ thèm đọc nữa; bác Quý Thể có những truyện hay như Đêm long diên hương, Mùi cọp... lúc đó, tôi luôn ước, cả đời văn mình giá mà viết được một cái thế; rồi được ôm eo chụp ảnh chung với nhà thơ Giang Nam, tác giả thi phẩm thơ Quê Hương... còn cánh tre trẻ chúng tôi bấy giờ có Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Ngọc Phú, Nguyễn Minh Ngọc, Vân Hạ, Cẩm Hương, Như Bình, Huỳnh Thạch Thảo, Đoàn Xuân Tuyến, Trần Duy Hiển, Nguyễn Thị Phước, Nguyễn Tam Mỹ, Bạch Lê Vân Nguyên... tất cả đều chưa là hội viên Hội nhà văn... các bác già gọi là “bọn, cây bút trẻ” và suốt ngày bị chê: “lũ bay, chỉ được cái ăn khỏe, uống rượu khỏe, ngủ khỏe,... còn viết thì dài, nhạt”. Có lẽ vì những lời chê ấy mà chúng tôi sau mới cố gắng, mới lấy vài giải cao Cây bút vàng. Có một chi tiết của Đinh Giang Thủy khiến ai cũng vui hết lắc. Nhớ lại, lúc đi vào, chúng tôi phải quành qua Quảng Bình để gò xe dọc đường đón Thủy. Thủy ngồi ghế sau cùng, thỉnh thoảng đường xóc, mọi người lại nghe “cộp” một tiếng, nhìn xuống, thấy Thủy xoa đầu, cười mủm mỉm. Vào tới Nha Trang, vài ngày rồi, ai cũng tắm rửa thay đến bộ quần áo thứ ba mà Thủy vẫn “nhất bộ”, tôi ngạc nhiên hỏi, hắn gãi đầu, nói nhỏn nhẻn“Cái Bít - tơ - mác em đi mượn, giờ quên mã mở. Không dám phá, Bít đắt tiền quá”. Ối giời ơi, không có lẽ cứ nhất bộ suốt cả tháng trời ở trại... rồi, hết hai chai quốc lủi, mọi người mới chịu hiến kế cho(hình như phải nhờ tay Bạch Lê Vân Nguyên - thổ công), Thủy mới tìm được ông thợ “phá khóa” số một ở Tp. Nha Trang, và mới... có quần áo để thay. Thủy hiền, ăn nói nhỏ nhẻ, vào cỡ tuổi Huỳnh Thạch Thảo, Như Bình - bé nhất trại. Tôi cũng không nhớ rõ hơn tháng ở đó, Thủy nộp tác phẩm gì, chỉ biết sau trại viết ấy, trên các đầu báo văn cả nước đều đều xuất hiện truyện Thủy. Tôi mừng, và đồ rằng: chắc chắn Thủy sẽ là cây viết quý, vững vàng của lực lượng, chỉ thời gian ngắn nữa thôi. Truyện Thủy nhiều “tuyết”, néo xít sao với cuộc sống, chiến đấu gian khổ của nhiều cán bộ chiến sỹ ta. Từ anh trinh sát đến đồng chí công an giao thông; từ cô văn thư đến chị y tá bệnh xá công an tỉnh... cứ hiện rười rượi, dân dã, nồng nàn, dũng cảm trong từng câu chữ của Thủy... Văn Thủy dụng công, kết thường rất bất ngờ, mà có hậu.

     Bẵng đi vài năm, không thấy Thủy viết gì, có dịp công tác qua Quảng Bình, tôi ghé thăm và “trách cứ” sao độ này trễ nải bút vậy? Thủy lại cười nhỏ nhẻ “Em có viết nhưng ít gửi. Mới lại bận việc cơ quan quá”. Năm kìa, Thủy báo tin vui được thăng chức phó trưởng phòng công tác chính trị và quần chúng, và được thăng quân hàm thượng tá, tôi mừng lắm, nhưng không mừng bằng việc này… sau bao lần rào trước đón sau; sau một lần vốc hàng chục viên thuốc cho vào miệng lúc Thủy điều trị chứng tiểu đường ở bệnh viện 19/8 khi tôi đến thăm:

     - Anh à, có nhờ đâu in giúp em tập truyện.

     Tôi sung sướng nhẩy quố lên rồi giật mình một cái, giật mình vì ái ngại. Nhờ gì không nhờ lại nhờ ra sách. Mình có gần gận ngạch xuất bản đâu, hai năm nay in ấn gì mà thông với thổ.

     Tôi ngước đôi mắt đến tám phần lòng đen bao phủ về phía Thủy, và  cụp nhanh xuống, tựa đầu ngỗng chạm hòn than đỏ khiến Thủy bối rối đến thảm hại. Thủy thấp giọng đầy ắp vẻ thèm rút lời nhờ cậy:

      - Ấy là nghĩ bác quen nhiều, ngoài này gần gận… chỗ nhờ. Không được cũng chẳng sao. Thư thư em tính.

      Tôi hếch mắt lên trần buồng bệnh, bỗng bắt gặp hai con thạch sùng đang ghểnh đầu ngó láo liên. Bất chợt, chúng cùng tắc lưỡi téc téc một cái.

     Nếu bỏ tiền ra in sách, như anh bạn hàng xóm tôi viết viết, bởi nhà gã có kinh tế, gã khoe. In cuốn tạp nham, thơ chẳng ra thơ, văn chẳng ra văn chi các khoản gần 16 triệu. Ôi, chì buộc lưng trời, kiếm đâu! mà nhỡ có, hoàn cảnh của tôi, của Thủy chắc... tém vào việc khác. Tôi ngậm ngùi ra về, trước đó cũng chữa ngượng “hứa” đại với bạn “Anh sẽ hỏi xem xem”. Cái thứ “xem xem” này xem ra vô cùng hào phóng, và có vẻ hão quá. Nào ngờ, chắc do ông giời phù hộ, tôi đem chuyện của Thủy nói với cô Thủy (cũng tên Thủy) Biên tập viên phòng Văn học nhà xuất bản Quân đội nhân dân, và tôi mừng ơi là mừng, khi vớ cú điện thoại nhận lời cho tập “Phục Thiện” vào list, gửi lên giám đốc xét in trong kế hoạch… sang năm. Gần tháng trời tôi đứng ngồi không yên chờ kết quả, rồi vui như phát cuồng khi biết Giám đốc Nhà xuất bản đồng ý ra sách cho Thủy mà không cần chút lệ phí nào.

     Ba tháng sau, sách ra. Nhìn thấy Thủy rưng rưng đón tập truyện ngắn có tựa đề Phục Thiện và số tiền nhuận bút ít ỏi mà lòng tôi dào dạt niềm vui vô bờ.

     Thế mà,

     thế mà ra tết Tân Mão vừa rồi, tôi đột ngột nhận được tin từ Quảng Bình báo ra, Thủy đã qua đời vì căn bệnh nặng. Tôi bàng hoàng không thể tin vào tai mình. Cầm ống nói, tôi rầu rầu gọi điện vào đơn vị của Thủy để chia buồn. Lúc ấy, tôi không dám gọi cho vợ con Thủy, vì xót quá.

     Thấm thoắt đầu tuần rồi đã cúng 50 ngày cho Thủy. Tôi phôn, gặp Hải vợ Anh. Chị nghẹn ngào đầu dây phía bên kia: “Nhờ dòng văn trong truyện ngắn Người hành khất, tập sách anh Thủy, con Ngọc (con đầu của Thủy) tức tưởi đọc bên bố lúc bệnh viện trả về khi mọi giác quan ngưng trệ mà anh ấy gắng gượng sống thêm được vài giờ”. Tôi tưởng như có vật gì đang đè nặng lên ngực mình, nhưng lại thấy dìu dịu trong lòng vì đã làm được một việc có lẽ ý nghĩa hơn nhiều lần góp công tìm ra ông thợ chữa khóa ở Nha Trang năm nào.

     Thời gian chậm chạp bò từng khắc khi khí lạnh tháng hai đang cố vẩy hơi sương buốt lên gờ cửa sổ gian nhà tập thể. Giở từng trang sách với những truyện ngắn ấn tượng: Ảo ảnh, Nguyệt, Người nói dối, Chiếc quạt và Khẩu súng, Khi người ta yêu, Phía trước là tương lai… lần lượt hiện ra trước mắt, lúc thong thả, khi gấp gáp, lúc nhẩn nha, khi sôi sục và quyết liệt… mà bao giờ cũng sâu sắc, tinh tế. Cuộc sống ở đó, cuộc đời ở đó với muôn vàn tình tiết chênh chao hiện lên khéo léo, chân thành dưới ngòi bút giản dị và hoạt trong văn Đinh Giang Thủy. Ở đấy tái hiện lung linh những mảng sống, hình ảnh đẹp đẽ về người chiến sỹ Công an, với Hoàng, Quang, Dương, Tuấn, Thắng… Họ cũng có nỗi lo như trăm người khác, cũng có phút xao lòng, có lúc cấn cái trước bao thiệt hơn, sướng khổ… Họ cũng cháy bỏng mong ước sự yên ổn, hạnh phúc bên người thân và thèm vô cùng một đời sống giản đơn, nhưng cái ác, điều xấu luôn khiến các anh gắng vượt, phải đối diện, chiến thắng những thứ với người thường ai ai cũng muốn tránh xa, mà điều quan trọng là các anh, các chị trước tiên phải vượt lên chính bản thân mình, lớn hơn những phút tầm thường của lẽ người, để giữ mầu quân phục sáng hơn, đẹp hơn… Cuộc đời dẫu lắm truân chuyên. Cũng như những nhân vật trong truyện mình, Đinh Giang Thủy muốn gửi gắm tới mọi người thông điệp nhân ái, bao dung, hãy tránh xa sự xấu xa, hãy vị tha, người với người  sống vì nhau, vì nhau như con tim ở cạnh con tim.

     Mất đi rồi, nhưng những hình tượng văn học dung dị ở cuốn truyện duy nhất đời mình, Đinh Giang Thủy thật không uổng, dẫu vất vả nhọc nhằn với cái duyên văn chương bén bàn chân lặm lội của người chiến sỹ làm nghề công an. Thứ anh để lại cho gia đình, bạn bè thật ngọt và thơm như tấm lòng bao la người đất Quảng.

     Đời người hữu hạn vô ưu.

     Thời gian vốn vô tình. Mới đấy từ lần đầu gặp Thủy mà đã hơn mười năm. Nhắm mắt, tôi còn mồn một dáng gầy gò mà nhanh nhẹn ấy, đến bữa, chạy mấy tầng nhà để mời các nhà văn già mải viết trễ giờ, xuống ăn cơm.

     - Hôm mất nó, mình biết mà kẹt công việc không vào được, phải nhắn người thắp hộ nén hương cho nó.

     Nhà văn Nguyễn Hồng Thái cầm tay tôi lắc lắc, giọng anh bùi ngùi như có gió bên trong. Tập truyện Phục Thiện còn đó, tình người còn đó, hơi ấm của Thủy và những trang viết kịp in vội vàng còn đó. Tôi tin sẽ là hành trang cho con anh, cái con bé Ngọc, ngoan, học giỏi, cho cả bạn bè với lời đề tựa “Sách chỉ biếu chứ không bán lấy tiền” vẫn ấm mãi bàn tay, ấm áp mãi ân tình  từ khối óc, trái tim Đinh Giang Thủy, đồng đội, bạn viết của tôi./.

Hà Nội 31/3/2011

PĐM


1 2 3 4 5 6  Sau»

Powered by LifeType

Powered by vnWeblogs